22/12/20

ĐIỀU ĐÁNG SỢ NHẤT LÀ KHI NHỮNG NGƯỜI NGỐC NGHẾCH BẮT ĐẦU YÊU NƯỚC

Nếu một ngày không đẹp trời, khi "nước lạ" nào đó xua giàn khoan tràn xuống khu vực Biển Đông thuộc chủ quyền Việt Nam, đe dọa đến đến sự toàn vẹn lãnh thổ, chúng ta sẽ làm gì? Làm việc, học tập, trau dồi, làm giàu cho gia đình, Tổ Quốc và đoàn kết, tin tưởng lẫn nhau. Hay là chọn một cách "thẳng thắn" hơn, là đập phá các cơ quan, nhà máy, ném đá vào sứ quán, đốt cờ của “nước lạ” ấy, rồi lan truyền thông tin bịa đặt nhằm kích động quần chúng bỏ làm, bỏ việc, tụ tập chống đối chính quyền?

Làm thế, địch sẽ sợ à? Hay là địch sẽ ngồi từ xa, ăn BBQ, xem NBA, nhìn chúng ta tự "cắn" nhau và rồi đến thu dọn chiến trường. Có thanh niên còn “hổ báo cáo chồn”, đăng tấm ảnh cởi trần, khoe những vết xăm trổ rồng, phượng, đầu lâu… với một dòng viết rất kêu: “Tôi muốn đánh Trung Quốc và yêu cầu Việt Nam tuyên bố chiến tranh với Trung Quốc”. Trời ơi, chiến tranh chứ có phải là cuộc thi cơ bắp hay thi hình xăm đẹp đâu? Nếu rảnh ấy, thì lên thẳng Bảo tàng Chứng tích Chiến tranh, đến Nhà mồ Ba Chúc... để biết rằng hiện thực chiến tranh tàn khốc như thế nào.
Yêu nước bằng máu của người khác, bằng sự hô hào "đánh đánh" trên mạng xã hội, để rồi "lụm" được một đống tương tác, bao nhiêu lời khen dũng cảm... Chứ bây giờ bảo làm đơn tình nguyện ra các đảo xem, có làm không?
Điều bất hạnh và đáng lo nhất của một dân tộc, một đất nước có khi không phải đến từ bom đạn hay sức mạnh của kẻ thù, mà đến từ những con người ngốc nghếch bắt đầu muốn “yêu nước”.
Năm 2014, một đám đông ở Bình Dương "yêu nước" bằng cách đập phá các trụ sở công ty, nhà máy, xí nghiệp... mà đập phá không thôi chưa đủ, đám đông này hú nhau ăn cắp nguyên vật liệu, hàng hóa... Rồi hậu quả của sự "yêu nước" nửa mùa này là Việt Nam phải đền bù hàng ngàn tỷ đồng cho các đối tác nước ngoài, nhiều công nhân mất việc, uy tín của Việt Nam trên trường quốc tế bị giảm, môi trường đầu tư bớt hấp dẫn đi.
Rồi năm 2018, lại một đám đông nữa tiếp tục "yêu nước", họ chặn QL1A, không cho các xe vận chuyển hàng hóa, nông sản lưu thông. Mà "yêu nước thế chưa đủ", họ đập phá luôn trụ sở chính quyền, đốt luôn xe chữa cháy, bao vây trụ sở quân đội…
Đó là "yêu nước" à? Yêu nước kiểu gì mà lại hại chính đồng bào mình, hại chính Tổ Quốc mình, yêu nước kiểu thế thì địch lại mừng quá. Có khi ở ngay đằng sau mặt trận, địch lại đang vỗ tay và nói: "Hay lắm, mấy thằng ngu ạ."
Muốn phản đối hành vi của Trung Quốc ư? Đồng ý luôn. Nhưng phản đối bằng cách kêu gọi "đập lộn" với Trung Quốc, cầm biểu ngữ "China Get Out", chầu chực ném vật lạ vào cơ quan ngoại giao Trung Quốc tại Việt Nam, rồi hô hào đám đông nghỉ làm, đình công.. Thì đó không phải là cách phản đối đúng đắn, vì những hành động chỉ kéo lùi chúng ta lại, còn địch thủ thì đục nước béo cò. Giờ nghỉ làm, tiền đâu sống, rồi doanh nghiệp nước ngoài thấy Việt Nam bất ổn, làm không làm chỉ đi biểu tình, thì họ có vào đầu tư nữa không?
Dĩ nhiên, lắm người sẽ bảo là.. hèn. Nhưng, chính trị và chiến tranh vốn không phải là trò chơi của những kẻ khù khờ hay bốc đồng. Đôi khi chỉ một viên đạn ở điểm nóng tiền tuyến, hay chỉ là một viên đá hòn gạch được ném vào trong sứ quán thôi cũng có thể đưa cả dân tộc vào vòng xoáy chiến tranh. Mà Việt Nam mới thoát khỏi chiến tranh chưa lâu, bao nhiêu thế hệ đã hi sinh để có hòa bình, vậy mà đám con cháu lại thiếu tỉnh táo, thích lao đầu vào bom đạn mới chịu cơ.
Yêu nước, có nghĩa là mỗi cá nhân tự định vị được vị trí, vai trò, khả năng của mình với Tổ Quốc. Nếu thích súng ống, muốn trải nghiệm đời lính, thì gia nhập quân đội. Nếu có khả năng về y sinh, có thể trở thành một bác sĩ. Hay nói vui một chút, nếu có khả năng về bóng đá, hãy cố gắng trở thành một cầu thủ, để có thể thi đấu vì toàn dân tộc.
Yêu nước, không phải ở việc biểu tình, kêu gọi đình công, hay cầm biểu ngữ yêu cầu cắt đứt quan hệ với Trung Quốc hay quốc gia nào đó. Hồi kháng chiến chống Mỹ, chúng ta đấu tranh với chính quyền Mỹ chứ không phải nhân dân Mỹ và cả đất nước Mỹ. Một phần chiến thắng của chúng ta cũng đến từ sự đấu tranh, biết phân biệt đúng sai, phải trái của người dân Mỹ. Kêu gọi chống đối hẳn một quốc gia, thì đó không phải là yêu nước, là đó là mầm mống của chủ nghĩa dân tộc thượng đẳng. Yêu nước, đến từ việc mong muốn đưa cái tên Việt Nam đến với nhiều bạn bè thế giới với hình ảnh một quốc gia hòa bình, có tính chính nghĩa, chứ không phải là một quốc gia ngang bướng, choai choai, bất cần đời.
Mà đừng có cái giọng điệu hô hào tẩy chay hàng nước này nước kia. Việt Nam sống nhờ xuất nhập khẩu, chứ không phải "tự cung tự cấp". Mà trước khi nói tẩy chay ấy, hãy nghĩ đến trong nhà có bao nhiêu món đồ từ Trung Quốc? Mà ngay cả đồ Hàn, Mỹ, EU, cũng vẫn có sự xuất hiện của linh kiện từ Trung Quốc. Hay ví dụ dễ hiểu thế này, có nhớ mấy đợt giải cứu dưa hấu, giải cứu thanh long không? Hô hào tẩy chay nước lớn, chẳng biết là nước lớn có ảnh hưởng hay không, nhưng dân mình là những người "tạch" đầu tiên. Đó vừa là ảo tưởng sức mạnh, vừa thiếu thực tế.
Hôm nay, là ngày mà những liều vaccine Covid-19 “Made in Vietnam” được tiêm thử nghiệm. Yêu nước ở đây là việc cùng mong những điều tốt lành sẽ đến sau đợt thử nghiệm, chia sẻ những thông tin tích cực, cổ vũ đội ngũ y bác sĩ và tình nguyện viên. Chứ không phải là cứ miệng bô la ba la nào là “vaccine Tàu”, “làm chuột bạch”, “Việt Nam méo làm được cái gì cả, toàn bánh vẽ"..
Đồng ý rằng không phải ai cũng có đầy đủ kiến thức, trình độ và hiểu biết, nhưng ít ra không biết thì ngồi im, chứ đừng có hùa theo những thứ vớ vẩn không não.
Yêu nước, là mặc dù làm bất công việc gì, ở vị thế nào, thì luôn sẵn sàng khi Tổ Quốc cần và yêu nước phải bằng trái tim nóng và cái đầu lạnh.

"SUỐT ĐỜI TÔI CHỈ CÓ MỘT HAM MUỐN, MỘT HAM MUỐN TỘT BẬC LÀ LÀM SAO CHO NƯỚC NHÀ ĐƯỢC ĐỘC LẬP, NHÂN DÂN AI CŨNG CÓ CƠM ĂN ÁO MẶC, AI CŨNG ĐƯỢC HỌC HÀNH" (HỒ CHÍ MINH)

 "Tự do cho đồng bào tôi, độc lập cho Tổ quốc tôi, đấy là tất cả những gì tôi muốn, tất cả những điều tôi hiểu!"

Năm 1920, nội bộ Đảng Xã hội Pháp đã chia ra nhiều xu hướng, quan điểm khác nhau, ngay cả báo chí cũng tham gia vào các cuộc tranh luận về vấn đề lựa chọn Quốc tế II hay Quốc tế III. Cũng vì có nhiều khác biệt trong nội bộ nên ngày 29/2/1920, Đảng Xã hội Pháp tổ chức Đại hội bất thường tại Strasbourg.
Đến cuối năm, đúng vào ngày Giáng sinh, Đại hội Đảng Xã hội Pháp lần XXVIII đã chính thức khai mạc và họp một tuần tại thành phố Tours (nên vẫn được gọi tắt là Đại hội Tours). Đại hội này có 370 đại biểu tham dự họp, đại biểu chính thức là 285 với những thành phần xã hội đa dạng thay mặt cho 4640 tổ chức gồm 18 vạn đảng viên trong toàn quốc.
Nguyễn Ái Quốc tham dự đại hội với tư cách là đại biểu chính thức, duy nhất của các nước thuộc địa Đông Dương và đã có bài phát biểu lên án sự tàn bạo của chủ nghĩa thực dân Pháp, gây chú ý tại phiên họp chiều ngày 26/12/1920:
"Trong vài phút, tôi không thể vạch được hết những sự tàn bạo mà bọn tư bản ăn cướp đã gây ra ở Đông Dương. Nhà tù nhiều hơn trường học, lúc nào cũng mở cửa và chật ních người. Bất kỳ người bản xứ nào có tư tưởng xã hội chủ nghĩa cũng đều bị bắt và đôi khi bị giết không cần xét xử... Chúng tôi không có quyền tự do báo chí và tự do ngôn luận... Chúng tôi không có quyền cư trú và du lịch ra nước ngoài... Chúng tôi phải sống trong cảnh ngu dốt tối tăm vì chúng tôi không có quyền tự do học tập. Ở Đông Dương, bọn thực dân tìm mọi cách để đầu độc chúng tôi bằng thuốc phiện và làm chúng tôi đần độn bằng rượu..."
Người đề nghị Đảng Xã hội phải có hành động thiết thực để ủng hộ người bản xứ: "Chúng tôi thấy rằng việc Đảng Xã hội gia nhập Quốc tế thứ ba có nghĩa là Đảng hứa một cách cụ thể rằng từ nay Đảng sẽ đánh giá đúng tầm quan trọng của vấn đề thuộc địa. Đảng phái một đồng chí của Đảng để nghiên cứu tại chỗ những vấn đề ở Đông Dương và đề xuất những hoạt động cần phải tiến hành".
Cuối cùng Người kêu gọi: "Nhân danh toàn thể loài người, nhân danh tất cả các đảng viên xã hội, cả phái hữu lẫn phái tả, chúng tôi kêu gọi: Các đồng chí, hãy cứu chúng tôi".
Cả hội trường đã vỗ tay nhiệt liệt hoan nghênh bài phát biểu độc đáo của Nguyễn Ái Quốc. Buổi sáng ngày 28/12/1920, Đại hội nhận được điện tín của QTCS gửi đến chúc mừng có chữ ký của Lênin và 17 người trong Ban chấp hành QTCS. Ngày hôm sau, nữ đồng chí Clara Zetkin, Ủy viên đoàn Chủ tịch Ban chấp hành QTCS, người rất gắn bó với Lênin, còn bất ngờ xuất hiện phát biểu ý kiến trước Đại hội.
Trong suốt thời gian họp, các đại biểu đã tranh luận sôi nổi, gay gắt, căng thẳng về việc gia nhập Quốc tế III hay ở lại Quốc tế II, thành lập Đảng Cộng sản hay giữ nguyên Đảng Xã hội? Cuộc tranh cãi rất kịch liệt, có đại biểu thậm chí bỏ ra về rồi hôm sau quay lại họp tiếp. Nguyễn Ái Quốc đã lắng nghe các cuộc tranh cãi nhưng không hiểu lắm nên khá nhức đầu.
Một hôm, Người cũng nêu ý kiến: "Các bạn đều là những người xã hội rất tốt! Tất cả các bạn đều muốn giải phóng giai cấp công nhân? Vâng. Như thế dù đệ nhị, đệ nhị rưỡi hay đệ tam Quốc tế phải chăng cũng thế cả.
Những Quốc tế ấy đều không là cách mạng cả sao? Những Quốc tế ấy đều không đấu tranh cho chủ nghĩa xã hội cả sao? Dù các bạn gia nhập Quốc tế này hoặc Quốc tế nọ, các bạn cũng phải đoàn kết nhất trí. Tại sao tranh luận nhiều thế? Trong khi các bạn tranh luận ở đây, thì đồng bào chúng tôi đang rên xiết ở Việt Nam".
Các đại biểu đều cười, nữ đồng chí Rose, người ghi biên bản tốc ký của Đại hội nói với Người: "Anh Nguyễn, cũng hơi khó giải thích cho anh rõ vì anh là một người mới. Nhưng tôi chắc sau này anh sẽ hiểu tại sao chúng tôi thảo luận nhiều thế, vì nó quan hệ đến tiền đồ của giai cấp công nhân".
Cuối cùng, các đại biểu đã phân chia ra làm 4 khuynh hướng khác nhau: ủng hộ gia nhập QTCS, không ủng hộ gia nhập QTCS, chờ thêm lực lượng gia nhập và không có ý kiến (phiếu trắng). Đến 22h ngày 29/12/1920, Đại hội bỏ phiếu, có 3208 đại biểu tán thành tham gia QTCS (trong đó có phiếu của Nguyễn Ái Quốc), 1390 đại biểu không tán thành.
Sau khi bỏ phiếu, Rose đã hỏi Nguyễn Ái Quốc tại sao lại ủng hộ cho Quốc tế III?
Người trả lời: "Rất đơn giản. Tôi không hiểu chị nói thế nào là chiến lược, chiến thuật vô sản và nhiều điểm khác! Nhưng tôi hiểu rõ một điều: Quốc tế III rất chú ý đến vấn đề giải phóng thuộc địa... Tự do cho đồng bào tôi, độc lập cho Tổ quốc tôi, đấy là tất cả những điều tôi muốn, đấy là tất cả những điều tôi hiểu".
Khi công bố kết quả bỏ phiếu, mọi người cùng hát vang bài Quốc tế ca. Những ai không phục kết quả cuối cùng của Đại hội thì ra về. Những đại biểu ở lại thông qua nghị quyết thành lập Đảng Cộng sản Pháp, phân bộ Pháp của QTCS. Đúng 2h30 sáng 30/12/1920, chủ tịch phiên họp long trọng tuyên bố: Đại hội Đảng Cộng sản Pháp khai mạc! Giờ phút này mang ý nghĩa lịch sử không chỉ đối với phong trào công nhân Pháp mà còn là giờ phút quan trọng báo hiệu người cộng sản Việt Nam đầu tiên chính thức dẫn dắt phong trào giải phóng dân tộc Việt Nam dưới ngọn cờ của chủ nghĩa Lênin.
Jacques Duclos, một người đồng chí cùng chung lý tưởng với Nguyễn Ái Quốc lúc đó đã viết trong hồi ký: "Thời ấy họ (những người cộng sản) có một cách nhìn và tin tưởng vào luồng cách mạng đang sôi sục ở châu Âu và cả thế giới. Nguyễn Ái Quốc chắc chắn cũng nghĩ và quan niệm như vậy. Người thanh niên yêu nước tha thiết này hẳn có hy vọng tràn trề vào sự giúp đỡ quốc tế, vào tình nghĩa của tất cả những người đang làm cách mạng khắp hoàn cầu- những người với bổn phận quốc tế sẽ giúp đỡ những dân tộc bị trị vùng lên".
Và ý nghĩa to lớn của sự kiện này cũng được chính Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh kể lại: "Được rèn luyện trong thực tế đấu tranh anh dũng của công nhân và của Đảng Cộng sản Pháp mà tôi đã tìm thấy chân lý của chủ nghĩa Mác-Lênin, đã từ một người yêu nước tiến bộ trở thành một chiến sĩ xã hội chủ nghĩa".

ĐẠI TƯỚNG VÕ NGUYÊN GIÁP: TƯ LỆNH CỦA CÁC TƯ LỆNH, CHÍNH ỦY CỦA CÁC CHÍNH UỶ

Cuộc đời và sự nghiệp của Đại tướng - Tổng Tư lệnh Võ Nguyên Giáp đã đưa ông lên tầm cao của các danh tướng thế giới.

Được Chủ tịch Hồ Chí Minh ủy thác trọng trách cầm quân, dưới sự lãnh đạo của Đảng, nắm vững cẩm nang làm tướng mà Hồ Chủ tịch trao cho, quán triệt đường lối chiến tranh nhân dân toàn dân, toàn diện và trường kỳ, đứng vững trên nền tảng chính trị của khối đoàn kết toàn dân, ông đã dẫn dắt toàn quân đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác trong suốt 30 năm chiến tranh giải phóng.
Đức độ, tài năng của ông đã đem lại cho ông niềm tin yêu trọn vẹn của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân; lòng mến mộ của bạn bè quốc tế và cả sự khâm phục của những người hôm qua còn là đối thủ của ông. Ông là một trong số ít các nhân vật trở thành huyền thoại ngay cả khi còn đang tại thế.
Vị đại tướng đầu tiên của Quân đội nhân dân Việt Nam, nhà chiến lược và chỉ huy quân sự lỗi lạc
Đại tướng Võ Nguyên Giáp là nhà chính trị, quân sự lỗi lạc, văn võ kiêm toàn được Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng giao cho trọng trách thành lập Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân để đẩy mạnh đấu tranh vũ trang trong thời kỳ chuẩn bị cuộc tổng khởi nghĩa tháng Tám năm 1945, tiếp đó làm Bí thư Quân ủy Trung ương, Bộ trưởng Quốc phòng và tổng chỉ huy Quân đội nhân dân Việt Nam trong suốt hai cuộc chiến tranh chống Pháp và chống Mỹ.
Trên những cương vị đó, Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã có những cống hiến đặc biệt xuất sắc, đã cùng Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương xây dựng và tổ chức thực hiện đường lối quân sự của Đảng, tổ chức và xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân 3 thứ quân, vận dụng sáng tạo phương thức tiến hành chiến tranh nhân dân và nghệ thuật quân sự, hình thành học thuyết quân sự Việt Nam độc đáo: Nước nhỏ, đánh thắng những kẻ thù lớn mạnh nhất trong thời đại Hồ Chí Minh.
Ông là người đã trực tiếp dẫn dắt “đội quân thơ ấu” từ hai bàn tay trắng, từ súng trường chân đất lớn lên trong suốt cuộc trường chinh mười ngàn ngày và đã đánh bại 10 đại tướng của quân đội viễn chinh nhà nghề của hai đế quốc lớn.
Ông đã từ một người yêu nước ở tuổi học trò đến một người cộng sản chân chính - chân chính đến tận cuối đời; đã từ một giáo sư sử học không qua một trường lớp quân sự, trưởng thành từ thực tiễn chiến trường để trở thành danh tướng, “một tư lệnh của các tư lệnh, một chính ủy của các chính ủy” - như cách định nghĩa của Thượng tướng Trần Văn Trà.
Thành công trong cuộc đời cầm quân của Đại tướng Võ Nguyên Giáp gắn liền với sự dìu dắt của Chủ tịch Hồ Chí Minh ngay từ buổi ban đầu. Người đã dạy ông bốn từ Dĩ công vi thượng. Lời dạy ngắn gọn đó không chỉ theo ông trong suốt cuộc đời cầm quân mà khi đã hoàn thành nhiệm vụ nhân dân giao phó, trở về với không ít thử thách trong cuộc sống đời thường, trong tư tưởng và hành động, ông luôn tâm niệm một điều: Đặt lợi ích Tổ quốc lên trên hết, lợi ích nhân dân lên trước hết. Ông là vị tướng quán triệt sâu sắc tư tưởng và phương pháp luận Hồ Chí Minh, là người cầm quân tiếp thu và thể hiện đầy đủ tư cách một người tướng gồm sáu đức tính Trí - Tín - Dũng - Nhân - Liêm - Trung mà Bác Hồ đã dạy. Những đức tính ấy, nhất là Trí và Dũng, bộc lộ rất sớm. Điều này có thể thấy qua cuộc đấu trí, đấu lực quy mô lớn đầu tiên giữa hai quân đội rất chênh lệch về trang bị kỹ thuật và trình độ tác chiến trong Chiến dịch Việt Bắc mùa khô năm 1947, để khẳng định rằng tài cầm quân ở tầm chiến lược của ông xuất hiện ngay từ những năm đầu của kháng chiến toàn quốc.
Ở Chiến dịch Biên giới năm 1950, lúc đầu ta chủ trương đột phá Cao Bằng. Nhưng sau khi trực tiếp trinh sát thực địa, đánh giá tình hình, ông đã quả cảm, quyết đoán đề nghị chuyển sang đột phá Đông Khê và đã được Hồ Chủ tịch phê chuẩn. Hồ Chủ tịch đã trực tiếp tham gia chỉ đạo chiến dịch và vạch ra ý đồ tác chiến là “nhử thú dữ vào tròng - khép vòng lưới thép” tiêu diệt địch. Còn ông chỉ huy bộ đội thực hiện “vận động chiến” và mưu kế “đánh điểm-diệt viện”. Quân ta đã kiên cường chiến đấu và đã giành chiến thắng lớn ở Đông Khê. Bị mất Đông Khê, quân địch từ Thất Khê lên ứng cứu đã bị ta đánh chặn và tiêu diệt, quân địch ở Cao Bằng vội vã rút chạy cũng bị ta bao vây, tiêu diệt và bắt sống cả chỉ huy của hai cánh quân này. Nhờ mưu kế hay, cách đánh giỏi nên ta đã đánh một mà được hai. Hệ thống phòng tuyến đường số 4, vành đai khép chặt biên giới mà địch đã dày công xây dựng bị phá vỡ tan tành. Từ đó căn cứ cách mạng của ta được nối liền với các nước xã hội chủ nghĩa.
Đông Xuân 1953-1954, mưu kế chiến lược của Đại tướng được thể hiện rất tài tình. Ông đã thành công trong việc phân tán lực lượng cơ động của địch và đánh địch trên khắp chiến trường Đông Dương bằng các biện pháp nghi binh, lừa địch mà chính tướng Nava cũng phải thú nhận rằng đến hơn 80% lực lượng cơ động của quân Pháp đã bị phân tán ra các chiến trường. Do vậy, khi ta tiến công Điện Biên Phủ thì lực lượng cơ động của địch không thể tập trung lớn để đối phó được nữa.
Trên chiến trường chính - Điện Biên Phủ-, ông đã quyết đoán đề nghị thay đổi phương châm tác chiến từ “đánh nhanh, thắng nhanh” sang “đánh chắc, tiến chắc” đã được Thường vụ Trung ương Đảng và Hồ Chủ tịch phê chuẩn. Ông đã phải trải qua những trăn trở cực kỳ khó khăn trước khi đưa ra sự thay đổi phương châm tác chiến này. Mặc dù trận địa đã được bố trí, pháo lớn đã kéo lên vị trí chiến đấu với biết bao công sức và xương máu, nhưng ông vẫn quyết tâm cho đưa pháo xuống, rồi lại kéo lên.
Lần đầu tiên ở Việt Nam và cũng là rất hiếm ở trên thế giới cho kéo pháo lên núi cao, từ hầm trú ẩn chĩa pháo thẳng xuống đầu kẻ địch mà chế áp. Cách đánh này vừa bảo vệ được pháo tránh được sát thương do pháo và máy bay địch gây ra, vừa nâng cao được uy lực và mức chính xác cao, khiến cho ngay viên chỉ huy pháo binh của Pháp là Pirốt phải tự sát vì hoảng loạn và quá bất ngờ.
Sau 56 ngày đêm quyết chiến, quân đội Việt Nam non trẻ dưới sự chỉ đạo của Đảng, Bác Hồ, sự chỉ huy của vị Đại tướng mới ngoài 40 tuổi đã đập tan tập đoàn cứ điểm mạnh nhất từ trước tới nay của quân Pháp. Chủ tịch Hồ Chí Minh từng nói “Cùng với Bạch Đằng, Chi Lăng, Đống Đa, Điện Biên Phủ là “cây cột mốc bằng vàng” đánh dấu sự sụp đổ của chủ nghĩa đế quốc”.
Bước sang cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, Đại tướng Võ Nguyên Giáp tiếp tục giữ cương vị là người đứng đầu quân đội, cùng với Bộ Chính trị hoạch định những quyết sách chiến lược. Để giáo dục cho quân đội, ông đã viết lý luận về đường lối chiến tranh nhân dân của Đảng, nêu cao tư tưởng quân sự Hồ Chí Minh.
Trong lúc cuộc đấu tranh cách mạng ở miền Nam diễn ra gay go, ác liệt, để tạo thực lực về cơ sở vật chất và lực lượng cho cách mạng miền Nam, ông đã đề xuất với Bộ Chính trị và Chủ tịch Hồ Chí Minh mở đường chiến lược Trường Sơn. Con đường chiến lược Hồ Chí Minh đã hình thành từ đó, đã tiếp sức cho cách mạng miền Nam và tiến thẳng đến dinh lũy của kẻ địch vào ngày toàn thắng.
Khi Mỹ đưa quân vào miền Nam tiến hành “chiến tranh cục bộ”, bộ đội Tây Nguyên đã đề ra chiến thuật “chốt kết hợp với vận động”. Khi đem chiến thuật này ra Bắc báo cáo đã được Đại tướng và Bộ Tổng tham mưu sửa lại là “Vận động tiến công kết hợp với chốt”, thể hiện tinh thần tiến công mạnh mẽ hơn. Nhờ đó, mùa đông năm 1967, trong chiến dịch Đắc Tô 1, bộ đội Tây Nguyên đã thành công và hoàn thiện chiến thuật “Vận động tiến công kết hợp với chốt”, mở ra khả năng đánh mới, tiêu diệt những đơn vị quân Mỹ trên chiến trường. Lần đầu tiên ở Tây Nguyên, bộ đội ta đã đánh thiệt hại nặng lữ đoàn dù 173 là lữ đoàn cơ động chiến lược của Mỹ, làm cho quân Mỹ bị choáng váng, chùn bước tiến vào căn cứ của ta.
Khi chiến cục đông xuân 1974-1975 bước vào giai đoạn quyết định, thấm nhuần tư tưởng quân sự Hồ Chí Minh, thực hiện quyết tâm của Bộ Chính trị giải phóng miền Nam trong năm 1975 và 1976, trước hết giải phóng Tây Nguyên, ông dùng mưu kế chiến lược thật tuyệt vời: giăng địch ra hai đầu Nam-Bắc chiến tuyến và kìm địch ở Huế, Đà Nẵng và Sài Gòn, Quân đoàn 2 kìm giữ địch ở Huế - Đà Nẵng, Quân đoàn 4 đứng chân ở Đồng Nai - Bắc Sài Gòn, kìm giữ địch ở Sài Gòn và để địch sơ hở Tây Nguyên.
Khi đã giữ chặt được sư đoàn dù và sư đoàn thủy quân lục chiến ngụy - là những lực lượng cơ động chiến lược của địch ở hai đầu Nam-Bắc - thì đó là thời cơ để ta tiến công địch ở Tây Nguyên. Điều hay hơn nữa, để phá vỡ Tây Nguyên một cách nhanh chóng, chuyển hóa cả thế và lực, ông đã bất ngờ tăng thêm cho lực lượng ta ở Tây Nguyên hai sư đoàn nữa. Tây Nguyên từ chỗ có 2 sư đoàn trở thành có 4 sư đoàn, đã trở thành một quả đấm chủ lực mạnh.
Ngay khi chuẩn bị giải phóng Tây Nguyên, ông cũng đã phán đoán đến khả năng: Nếu địch bị thua đau ở Tây Nguyên, chúng có thể sẽ rút chạy về co cụm ở đồng bằng. Quả đúng như vậy, từ đó ông đã chỉ đạo chiến dịch gối đầu chiến dịch Huế-Đà Nẵng và kế tiếp chiến dịch Hồ Chí Minh với thế đánh địch “như chẻ tre”.
Thời cơ lịch sử đã đến, với sự nhạy bén và quyết đoán của nhà chiến lược quân sự, ông đã chỉ huy các mũi tiến công của đại quân ta bằng mệnh lệnh: “Thần tốc, thần tốc hơn nữa, táo bạo, táo bạo hơn nữa, tranh thủ từng giờ từng phút xốc tới mặt trận, giải phóng miền Nam, quyết chiến và toàn thắng”. Mệnh lệnh của ông vừa là tiếng kèn xung trận vừa là chiết xuất của một tư duy quân sự thiên tài trước thời khắc hệ trọng lịch sử của dân tộc.
Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã tiếp thu và vận dụng sáng tạo tư tưởng Hồ Chí Minh và kế thừa những truyền thống tinh hoa của dân tộc, trí tuệ dân tộc. Ông có đóng góp to lớn vào kho tàng lý luận quân sự Việt Nam. Võ Nguyên Giáp là một vị tướng chỉ huy có tài thao lược, trí tuệ quân sự, mưu kế chiến lược, lý luận quân sự sáng tạo được lãnh tụ Hồ Chí Minh giáo dục, rèn luyện và được cuộc chiến tranh cách mạng hun đúc. Ông là một vị tướng của nhân dân, vị tướng của quân đội cách mạng.
Con người trọn đức vẹn tài
Đại tướng Võ Nguyên Giáp luôn say mê học tập nghiên cứu lịch sử chống ngoại xâm của dân tộc, nghiên cứu lịch sử các cuộc chiến tranh, lịch sử quân sự thế giới; trân trọng các binh thư của tổ tiên, đi sâu vào Hịch tướng sĩ - Binh thư yếu lược của Trần Hưng Đạo, Bình Ngô Đại Cáo và Quân Trung Từ Mệnh Tập của Nguyễn Trãi; đọc các sách Đông Tây kim cổ, nghiền ngẫm về Tôn Tử binh pháp, về Carl von Clausewitz, Napoleon và một số tác giả đương thời; đọc các trước tác của Karl Marx, Engels, Lenin, Mao Trạch Đông, đặc biệt chú trọng học tập và tiếp thu sâu sắc tư tưởng cách mạng và tư tưởng quân sự Hồ Chí Minh.
Đại tướng không chỉ là một vị tướng cầm quân giỏi mà ông còn là một nhà ngoại giao, nhà văn hóa, nhà báo, nhà giáo, nhà thơ của dân tộc. Ông cũng là một trong những người tham gia sáng lập báo Lao động, Tiếng nói chúng ta; là biên tập viên báo Tin tức, báo Dân chúng; là Chủ tịch Uỷ ban báo chí Bắc Kỳ trong phong trào Đông Dương Đại hội. Trong 30 năm kháng chiến, trên các báo, tạp chí của Trung ương Đảng, của quân đội có nhiều bài báo mang tên tác giả Võ Nguyên Giáp hay Hồng Nam. Đó là những bài viết về chỉ đạo chiến lược, chiến thuật và nghệ thuật quân sự của chiến tranh nhân dân; về quan hệ giữa chính trị, quân sự và xây dựng kinh tế; về Đảng lãnh đạo quân đội và các cấp ủy đảng địa phương lãnh đạo các lực lượng vũ trang nhân dân. Nhà báo cách mạng Võ Nguyên Giáp đã có gần 70 năm viết báo, là vị đại tướng có nhiều bài báo nhất (không kể những báo cáo, bài nói đăng báo).
Đại tướng Võ Nguyên Giáp có nhiều năm hoạt động cách mạng tại Chiến khu Việt Bắc. Ông nói thành thạo tiếng Tày, tiếng Dao và tiếng Mông. Bài diễn ca về Mười chính sách Việt Minh của Bác Hồ viết bằng thể thơ lục bát gửi đồng bào Việt Bắc đã được Đại tướng chuyển sang thể thơ 5 chữ lấy tên là “Việt Minh ngũ tự kinh” và dịch sang 3 thứ tiếng Tày, Dao, Mông để phổ biến cho đồng bào, sau được dùng làm tài liệu tuyên truyền chính trong quần chúng và các lớp huấn luyện chính trị, văn hóa của phong trào Việt Minh.
Thư viện Quân đội đã lưu giữ được nhiều tác phẩm và sách lý luận của Đại tướng từ năm 1948 đến nhiều năm sau này: 46 đầu sách với 10.328 trang in, trong đó có cả những tác phẩm văn học, có sách viết về đề tài khoa học, kỹ thuật, kinh tế… rất xuất sắc. Có nhiều cuốn được tái bản 3 đến 5 lần. Ngoài ra còn 21 tuyển tập gồm các lệnh động viên, báo cáo tổng kết, diễn văn, huấn thị, chỉ thị… liên quan đến ông.
Đại tướng Võ Nguyên Giáp là một tấm gương sáng về đạo đức và về sinh hoạt của một người đứng đầu toàn quân và của một nhà văn hóa. Là Đại tướng Tổng Tư lệnh nhưng bữa ăn hàng ngày của ông bao giờ cũng đạm bạc, quần áo của ông mùa nào cũng chỉ vài bộ quân phục và thường phục bằng vải thường. Ông thường nhấn mạnh đến công lao, tài năng và đạo đức của các chiến sĩ và cán bộ chỉ huy các cấp nhưng rất ít nói đến bản thân mình. Ở ông sự độ lượng, đức khoan dung thật là sâu rộng. Ông có tác phong quần chúng tốt, là người rất quyết đoán nhưng cũng rất gương mẫu. Ông được nhân dân, quân đội và giới trí thức đặc biệt yêu mến.
Niềm tự hào của dân tộc Việt Nam
Là học trò xuất sắc của Chủ tịch Hồ Chí Minh, ông đã trở thành một trong những nhà lãnh đạo kiệt xuất của cách mạng Việt Nam, làm rạng rỡ dân tộc, vẻ vang giống nòi. Trong lòng dân, ông là vị Đại tướng của nhân dân, từ nhân dân mà ra. Đối với các thế hệ khoác áo lính trong lực lượng vũ trang nhân dân Việt Nam, ông bao giờ cũng là vị Tổng tư lệnh tối cao nhất mực, người “Anh Cả” kính mến. Đối với bạn bè năm châu, ông là vị anh hùng hiện thân sự trường tồn của dân tộc Việt Nam.
“Một thống soái quân sự cỡ lớn” - Đó là cách đánh giá của Đại tướng Mỹ William Westmoreland “đối thủ hôm qua” của Đại tướng, Tổng Tư lệnh Võ Nguyên Giáp. Và bằng nhiều cách diễn đạt khác nhau, các tướng lĩnh và sử gia phương Tây đều có những nhận xét tương tự.
Đại tướng Anh Peter MacDonald thì coi ông là “một trong những Thống soái lớn nhất của tất cả các thời đại”. Tướng Marcel Bigeard, một sĩ quan chỉ huy trên chiến trường Điện Biên Phủ năm xưa chỉ nói gọn một câu khi kết thúc cuộc phỏng vấn của đài phát thanh Pháp RFI nhân kỷ niệm 50 năm chiến thắng Điện Biên Phủ “Tôi xin ngả mũ chào bái phục Tướng Giáp”.
Bernard Fall - một sử gia phương Tây khẳng định trong cuốn Võ Nguyên Giáp - con người và huyền thoại rằng: “Trong một tương lai có thể thấy trước, phương Tây chưa thể đào tạo được một vị tướng nào có thể so sánh kịp với Tướng Giáp”.
Duncan Townson, tác giả cuốn Những vị tướng lừng danh (xuất bản ở London nhân dịp giải phóng miền Nam) thì coi Võ Nguyên Giáp là một trong 21 vị danh tướng trong vòng 25 thế kỷ qua, từ thời xa xưa với Alexandre Đại đế đến Hannibal rồi đến thời hiện đại, với Georgy Konstantinovich Zhukov... Theo Townson, mỗi vị danh tướng đó đều lập những chiến công “tạo nên bước ngoặt của nghệ thuật chiến tranh”...
Ảnh hưởng và uy tín của Đại tướng, Tổng Tư lệnh Võ Nguyên Giáp chẳng những đã từng sâu sắc, mạnh mẽ trong hơn 30 năm kháng chiến, mà vẫn tiếp tục sâu sắc và mạnh mẽ ngay cả vào thời điểm hiện nay, hơn 20 năm sau khi ông lần lượt thôi giữ các trọng trách trong Đảng, Nhà nước và Quân đội.
Tên tuổi nhà quân sự tài ba Võ Nguyên Giáp đã được khắc ghi trong cuốn Danh nhân Văn hoá thế giới. Ông là một nhân vật đã đi vào huyền thoại, một trong những con người tiêu biểu nhất cho dân tộc Việt Nam hôm nay và mai sau./.

NHỮNG BƯỚC TIẾN VƯỢT BẬC CỦA VIỆT NAM TRONG 5 NĂM QUA

 Chúng ta đã tạo nhiều dấu ấn nổi bật trong giai đoạn 2016 – 2020, tô đậm thành tựu của 35 năm đổi mới với những bước tiến vượt bậc; năm 2020 dù chịu tác động lớn của đại dịch COVID-19 nhưng vẫn được xem là năm thành công nhất của nước ta trong 5 năm qua về tinh thần và ý chí vươn lên trong mọi khó khăn, thử thách, cũng là thời điểm niềm tin của nhân dân với Đảng, Chính phủ là lớn nhất.

Hoàn thành ấn tượng nhiều chỉ tiêu
Theo nhiều ý kiến đánh giá, 5 năm qua, chúng ta đã vượt qua nhiều khó khăn, thử thách và đạt được những thành tựu rất quan trọng, khá toàn diện trên hầu hết các lĩnh vực.
Nhìn lại, không chỉ riêng trong năm 2020 này mà ngay từ đầu nhiệm kỳ, chúng ta đã đối diện với những thử thách lớn chưa từng thấy như đợt hạn hán kỷ lục trong gần 100 năm ở ĐBSCL, sự cố môi trường Formosa, sạt lở đất, lũ quét, lũ ống ở Tây Bắc, bão lũ, ngập lụt ở Miền Trung. Tuy nhiên, bằng quyết tâm của toàn bộ hệ thống chính trị, sự đồng lòng của người dân và doanh nghiệp, chúng ta đã cùng nhau tạo ra hơn 1.200 tỷ USD GDP trong gần 5 năm, trên một nền tảng kinh tế vĩ mô ổn định, theo báo cáo của Chính phủ trước Quốc hội.
Chúng ta có 4 năm liên tiếp 2016 – 2019 cơ bản hoàn thành và hoàn thành vượt mức kế hoạch đề ra, năm sau tốt hơn năm trước và cũng là kỳ tích. Năm 2020, mặc dù chịu tác động lớn của đại dịch COVID-19, nhưng chúng ta đã thành công trong phòng chống, kiểm soát dịch bệnh và phục hồi, phát triển kinh tế – xã hội, được cộng đồng quốc tế đánh giá cao. Kinh tế vĩ mô ổn định, tiếp tục duy trì đà tăng trưởng, bảo đảm an sinh xã hội và đời sống nhân dân. Các lĩnh vực văn hoá, xã hội, môi trường, quốc phòng, an ninh, đối ngoại tiếp tục đạt nhiều kết quả tích cực.
Tạp chí The Economist tháng 8 năm 2020 đã xếp Việt Nam trong top 16 nền kinh tế mới nổi thành công nhất thế giới. Theo số liệu của Ngân hàng thế giới, với tăng trưởng kinh tế bình quân 6,8% một năm giai đoạn 2016-2019, Việt Nam nằm trong top 10 quốc gia tăng trưởng cao nhất.
Với những thành tựu đạt được trong những năm gần đây, Việt Nam ngày càng có tiếng nói, trách nhiệm lớn hơn trong những vấn đề khu vực và toàn cầu. Chúng ta đã hoàn thành tốt trọng trách và các cam kết tại các diễn đàn, tổ chức khu vực và quốc tế như vai trò chủ nhà APEC 2017, Chủ tịch ASEAN 2020, Chủ tịch Hội đồng liên nghị viên các quốc gia Đông Nam Á (AIPA 41), Ủy viên không thường trực Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc, tổ chức tốt Hội nghị thượng đỉnh Mỹ – Triều…
Theo Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc, những kết quả này là thành tựu chung của cả hệ thống chính trị, cộng đồng doanh nghiệp và toàn thể nhân dân dưới sự lãnh đạo toàn diện của Đảng.
Riêng năm 2020 đánh dấu một bước ngoặc lớn trong lịch sử 100 năm gần đây của nhân loại khi đại dịch COVID-19 gây ra những tác hại vô cùng lớn đến kinh tế và sự xáo trộn trong đời sống xã hội của hầu hết các nền kinh tế trên thế giới.
Trong bối cảnh đó, mức độ thành công được xác định không chỉ bởi những gì chúng ta đã đạt được, mà bởi cả những trở ngại chúng ta đã vượt qua. Với những kết quả đặc biệt đó, chúng ta khẳng định năm 2020 phải được xem là năm thành công nhất của nước ta trong 5 năm qua về tinh thần và ý chí vươn lên trong mọi khó khăn, thử thách; niềm tin của nhân dân đối với Đảng, với tương lai đất nước không ngừng được củng cố và nâng cao, Thủ tướng nhấn mạnh.
Thành quả lớn nhất là niềm tin
Theo đánh giá của các đại biểu Quốc hội, năm 2020, với sự điều hành chủ động, sát sao, quyết liệt của Chính phủ trong thực hiện mục tiêu kép, chúng ta đã đạt được thành tích kép. Thủ tướng Chính phủ đã chỉ đạo hết sức kịp thời, sáng tạo trước các tình thế cấp bách như COVID-19, lũ lụt, thiên tai lịch sử.
Đại biểu Phạm Thị Minh Hiền (tỉnh Phú Yên) nêu rõ, năm 2020, Chính phủ đã ghi được rất nhiều điểm tốt trong lòng người dân cả nước, đó là sự nỗ lực, quyết liệt, sáng tạo trong chỉ đạo, điều hành hoạt động; điểm tốt trong sự đồng hành, chia sẻ cứu trợ người dân trong hoạt động đối phó, khắc phục thiên tai.
“Chính phủ và lãnh đạo Chính phủ đã lan tỏa tinh thần mạnh mẽ, khơi dậy sức dân, sức mạnh nội tại, khả năng chống chịu, đồng sức đồng lòng trước những tác động tiêu cực. Thành quả lớn nhất mà Chính phủ đã đạt được là niềm tin của người dân”, đại biểu nhận định.
Theo Báo cáo Triển vọng Kinh tế Thế giới, Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF) dự báo GDP Việt Nam năm 2020 ước đạt 340,6 tỷ USD, trở thành quốc gia có nền kinh tế lớn thứ 4 khu vực Đông Nam Á.
Theo Ủy ban Kinh tế của Quốc hội, giai đoạn 2016-2020, sau 4 năm đầu thực hiện đạt và vượt nhiều chỉ tiêu kế hoạch, năm 2020 đại dịch COVID-19 bùng phát, cùng với ảnh hưởng của thiên tai, biến đổi khí hậu đã tác động nghiêm trọng, ảnh hưởng lớn đến kết quả thực hiện một số chỉ tiêu.
Tuy nhiên, kinh tế vĩ mô vẫn duy trì ổn định, vững chắc; lạm phát được kiểm soát và duy trì ở mức thấp, giá cả hàng hóa diễn biến tương đối ổn định; tốc độ tăng tổng sản phẩm trong nước GDP giai đoạn 2016-2019 đạt khá cao (bình quân 6,8%/năm).
Ủy ban Kinh tế cũng đánh giá, xây dựng thể chế đạt nhiều kết quả tích cực, hệ thống pháp luật và cơ chế điều hành ngày càng đồng bộ, hoàn thiện và bao quát hơn, lần đầu thực hiện kế hoạch tài chính quốc gia 5 năm và kế hoạch đầu tư công 5 năm. Mô hình tăng trưởng dần chuyển dịch từ chiều rộng sang chiều sâu, chất lượng tăng trưởng được nâng cao; năng suất lao động được cải thiện; cơ cấu ngành công nghiệp, cơ cấu đầu tư chuyển dịch đúng hướng và tích cực.
Bên cạnh đó, công tác điều hành của Chính phủ tiếp tục có nhiều đổi mới, tập trung vào xử lý nhiều vấn đề kinh tế – xã hội khó khăn, thể hiện sự năng động, nhất quán, sâu sát, quyết liệt. Cải cách hành chính, xây dựng Chính phủ điện tử, hướng tới Chính phủ số, nền kinh tế số đạt được nhiều kết quả đáng ghi nhận. Việt Nam được đánh giá là nước cải thiện tốt nhất về năng lực cạnh tranh toàn cầu. Hiệu quả hoạt động của khu vực kinh tế tư nhân có bước phát triển; các lĩnh vực khoa học công nghệ, lao động và việc làm đạt một số kết quả. Tổ chức bộ máy quản lý nhà nước được kiện toàn, tinh giản biên chế đạt kết quả bước đầu.
Nhiều chính sánh ban hành kịp thời, thực hiện tốt
Trước đó, tại Hội nghị lần thứ 13, Ban Chấp hành Trung ương khóa XII đã thảo luận, đánh giá về tình hình phát triển kinh tế – xã hội năm 2020.
Theo đó, do ảnh hưởng của đại dịch COVID – 19, kinh tế – xã hội nước ta bị ảnh hưởng lớn, khó có thể hoàn thành được toàn bộ các mục tiêu, chỉ tiêu chủ yếu đã đề ra cho năm 2020 và năm năm 2016 – 2020, mặc dù đã có bốn năm liên tiếp trước đó luôn hoàn thành và hoàn thành vượt mức kế hoạch đề ra, năm sau tốt hơn năm trước.
Tuy nhiên, nhờ có sự nỗ lực phấn đấu, đóng góp to lớn, bền bỉ của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân, Việt Nam vẫn được bạn bè quốc tế đánh giá cao, được coi là điểm sáng về phòng, chống dịch bệnh và phát triển kinh tế – xã hội.
“Nhiều chủ trương, chính sách, biện pháp đúng đắn đã được ban hành kịp thời và tổ chức thực hiện tốt để duy trì ở mức cao nhất các hoạt động sản xuất kinh doanh, tạo việc làm, thu nhập cho người lao động, hỗ trợ người dân và các doanh nghiệp bị ảnh hưởng bởi dịch bệnh, bảo đảm an sinh và phúc lợi xã hội”, Ban Chấp hành Trung ương nhận định.
Bên cạnh những kết quả, thành tích rất đáng trân trọng, tự hào đã đạt được, kinh tế – xã hội nước ta vẫn đang phải đối mặt với nhiều khó khăn, thách thức lớn. Kinh tế tăng trưởng chậm lại, ở mức thấp nhất trong nhiều năm qua. Sản xuất kinh doanh bị suy giảm; nhiều doanh nghiệp gặp khó khăn, thậm chí phải đóng cửa, tạm dừng hoạt động. Việc làm, thu nhập của người lao động bị ảnh hưởng lớn.
Việc bảo đảm các cân đối lớn của nền kinh tế gặp nhiều khó khăn. Hệ thống tài chính – ngân hàng, bảo đảm an sinh và phúc lợi xã hội đứng trước nhiều rủi ro, thách thức. Việc triển khai thực hiện một số chính sách, biện pháp bảo đảm an sinh xã hội, hỗ trợ sản xuất kinh doanh chưa đạt được mục tiêu, yêu cầu đề ra.
Vì vậy, phát biểu bế mạc Hội nghị Trung ương 13, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng yêu cầu, cần phải rà soát, đánh giá khách quan, toàn diện kết quả thực hiện và có phương án điều chỉnh phù hợp để bảo đảm các cân đối lớn, nhất là cân đối về ngân sách của năm 2020 sao cho khả thi, sát hợp nhất với thực tế tình hình.
Về kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội năm 2021, Hội nghị Trung ương nhất trí cho rằng, đất nước ta bước vào năm 2021 với nhiều khó khăn, thách thức mới, nặng nề hơn so với 10 năm trước do tác động của đại dịch COVID – 19 và suy thoái kinh tế toàn cầu.
Tuy nhiên, khác so với trước, những khó khăn, thách thức đó đã bộc lộ trước Đại hội Đảng, chúng ta đã sớm chủ động nhận diện, kịp thời đề ra và quyết liệt lãnh đạo, chỉ đạo tổ chức thực hiện đồng bộ các chủ trương, chính sách, biện pháp ứng phó phù hợp, có hiệu quả; rút ra được nhiều kinh nghiệm quý báu cho thời gian tới.
Trung ương yêu cầu, trước mắt, cần tăng cường công tác phân tích, dự báo tình hình dịch bệnh và triển vọng kinh tế – xã hội thế giới cũng như trong nước từ nay đến hết năm 2020 và các năm 2021 – 2022; tiếp tục rà soát thật kỹ, xác định đúng các chỉ tiêu chủ yếu, các cân đối lớn của nền kinh tế, định hướng phát triển một số ngành, lĩnh vực quan trọng và những nhiệm vụ trọng tâm, những giải pháp có tính đột phá, khả thi cao./.

THÊM TRÂN QUÝ ĐỨC HY SINH CỦA BỘ ĐỘI CỤ HỒ (KỶ NIỆM 76 NĂM NGÀY THÀNH LẬP QĐND VIỆT NAM)

Bộ đội Cụ Hồ - Danh hiệu nhân dân vinh tặng, là niềm tự hào rất lớn đối với các thế hệ cán bộ, chiến sĩ Quân đội nhân dân Việt Nam. Phẩm chất của Bộ đội Cụ Hồ được hình thành và tỏa sáng trong suốt quá trình xây dựng, chiến đấu, trưởng thành, phát triển của Quân đội ta, trở thành biểu tượng sáng ngời của chủ nghĩa anh hùng cách mạng.
Đức hy sinh của cán bộ, chiến sĩ Quân đội nhân dân Việt Nam là một trong những chuẩn mực hàng đầu của Bộ đội Cụ Hồ. Thực tiễn đã chứng minh, trong kháng chiến, mọi quân nhân luôn nêu cao tinh thần yêu nước, căm thù giặc, sẵn sàng đánh đổi tính mạng của mình giành lấy độc lập, tự do cho Tổ quốc. Đức hy sinh của Bộ đội Cụ Hồ là tinh thần “Quyết tử để Tổ quốc quyết sinh”, “Xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước”, “Nhằm thẳng quân thù mà bắn”...
Ngày nay, đức hy sinh của Bộ đội Cụ Hồ được thể hiện ngay trong quá trình thực hiện các chức năng của đội quân chiến đấu, đội quân công tác, đội quân lao động sản xuất. Cán bộ, chiến sĩ không quản khó khăn, thử thách, hiểm nguy, thực hiện nghiêm túc 10 lời thề danh dự của quân nhân, 12 điều kỷ luật khi quan hệ với nhân dân, khi có lệnh là lên đường, sẵn sàng xông pha vào những nơi gian khổ để hoàn thành nhiệm vụ; vượt mọi khó khăn, tự lực, tự cường nghiên cứu khoa học kỹ thuật quân sự; sẵn sàng hy sinh lợi ích cá nhân, thậm chí chấp nhận đánh đổi cả tính mạng của mình để huấn luyện giỏi, SSCĐ cao, bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam XHCN; không quản khó khăn, gian khổ cứu giúp nhân dân; vượt qua nguy hiểm, ứng phó hiệu quả với các thách thức an ninh phi truyền thống...
Tiêu biểu như: Trong phòng, chống đại dịch Covid-19, cán bộ, chiến sĩ quân đội vượt mọi nguy khó, tiến hành tiêu độc, tẩy trùng ở vùng tâm dịch; nhiều cán bộ, chiến sĩ gác việc riêng, bám chốt trên biên giới kiểm soát đường mòn, lối mở phòng, chống dịch... Hay trong phòng, chống và khắc phục hậu quả thiên tai, tìm kiếm cứu nạn, bảo vệ tính mạng, tài sản của nhân dân, cán bộ, chiến sĩ quân đội luôn xung kích đi đầu theo tinh thần “Cứu dân là mệnh lệnh trái tim”. Từ sĩ quan cấp tướng đến người chiến sĩ sẵn sàng xông pha nơi hiểm nguy, chấp nhận hy sinh vì cuộc sống bình yên của nhân dân. Tinh thần, ý chí và những việc làm sinh động, cụ thể trên thực tế ấy đã được nhân dân ghi nhận, đánh giá cao, ngày càng làm sâu sắc hơn, tỏa sáng hơn phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ trong tình hình mới.
Đức hy sinh của Bộ đội Cụ Hồ được khởi nguồn từ mục tiêu, lý tưởng cách mạng vì độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, vì bình yên, hạnh phúc của nhân dân. Trong chiến tranh, cũng như trong thời bình, nhờ có mục tiêu, lý tưởng cách mạng rõ ràng mà cán bộ, chiến sĩ quân đội luôn tuyệt đối trung thành với Đảng, với Tổ quốc, với nhân dân, khi nhận bất cứ nhiệm vụ gì cũng tận tâm, tận lực, thi hành nhanh chóng và chính xác. Cũng nhờ có mục tiêu, lý tưởng cách mạng, lý tưởng sống vì cộng đồng, chung tay xây dựng đất nước mà lớp lớp thanh niên mong muốn được rèn luyện trong môi trường quân ngũ. Chặng đường 76 xây dựng, chiến đấu, trưởng thành của Quân đội nhân dân Việt Nam, các cấp, các ngành, các cơ quan chức năng của quân đội chưa thể thống kê đầy đủ có bao nhiêu lá đơn tình nguyện, xung phong nhập ngũ, trong đó có rất nhiều lá đơn viết bằng máu. Và khi đã được rèn luyện trong môi trường quân đội, mang trong mình bản chất giai cấp công nhân, đức hy sinh của Bộ đội Cụ Hồ thì mọi quân nhân đều vững vàng hơn trong cuộc sống. Nhiều quân nhân được giáo dục, rèn luyện ở các đơn vị quân đội, sau khi hoàn thành nghĩa vụ quân sự đã trở thành những cán bộ nòng cốt ở cơ sở, những doanh nhân thành đạt có đóng góp tích cực cho quê hương, đất nước.
Tuy nhiên, thực tế hiện nay, trước sự chống phá của các thế lực thù địch, cơ hội chính trị, phản động trong và ngoài nước đẩy mạnh chiến lược “diễn biến hòa bình”, thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ, thực hiện âm mưu “phi chính trị hóa” quân đội; trước tác động của mặt trái kinh tế thị trường, một số người còn có cách nhìn phiến diện, chủ quan, thậm chí phủ nhận đức hy sinh của Bộ đội Cụ Hồ. Có người cho rằng, môi trường quân đội hà khắc, khổ ải, sự hy sinh giữa thời bình là không đáng có, từ đó dẫn đến tình trạng phản đối hoặc không muốn con em mình được rèn luyện, phấn đấu, trưởng thành trong quân ngũ. Nguy hiểm hơn, những luận điệu tuyên truyền sai trái, xuyên tạc kia đã làm cho một số thanh niên phai nhạt lý tưởng, thiếu niềm tin, tìm nhiều lý do, mánh khóe trốn tránh nghĩa vụ quân sự...
Những biểu hiện, suy nghĩ lệch lạc đó của một số cá nhân cần phải kiên quyết phê phán. Bởi đức hy sinh của Bộ đội Cụ Hồ là vì Tổ quốc, vì cuộc sống bình yên của nhân dân (trong đó có gia đình, người thân và bản thân những người có suy nghĩ lệch lạc kia), vì sự phát triển của đất nước và vì chính sự tiến bộ của từng cán bộ, chiến sĩ trong quân đội. Do đó, để đức hy sinh của Bộ đội Cụ Hồ là giá trị vĩnh hằng, phát huy hiệu quả trong sự nghiệp xây dựng quân đội, củng cố quốc phòng, bảo vệ Tổ quốc, vì cuộc sống hạnh phúc của nhân dân, trước tiên cần phải đề cao công tác giáo dục mục tiêu, lý tưởng cách mạng cho thế hệ trẻ, động viên, khích lệ thanh niên và toàn dân có trách nhiệm bảo vệ Tổ quốc, xây dựng quân đội.
Chúng ta đều biết, mục tiêu, lý tưởng cách mạng không thể tự nó trở thành tiềm thức của mỗi người nói chung, mỗi quân nhân nói riêng mà là kết quả của công tác giáo dục, rèn luyện bền bỉ, khoa học với nội dung phong phú, thiết thực. Bởi vậy cấp ủy, chính quyền, đoàn thể từ Trung ương tới địa phương cần tiếp tục tăng cường tuyên truyền, giáo dục trong các tầng lớp nhân dân về Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, quan điểm của Đảng, tình hình nhiệm vụ của cơ quan, đơn vị, địa phương mình, về “đối tác”, “đối tượng” của cách mạng Việt Nam. Tập trung giáo dục nâng cao nhận thức, trách nhiệm, tình cảm cho thế hệ trẻ trong tự rèn luyện, tu dưỡng, có ý chí phấn đấu vươn lên, lạc quan, không ngại khó khăn, gian khổ, luôn nghiêm khắc và yêu cầu cao với chính mình, luôn biết đặt cho mình những mục tiêu rèn luyện, tu dưỡng, biết sống và cống hiến vì Tổ quốc, vì nhân dân.
Các cơ quan, đơn vị quân đội tập trung thực hiện nghiêm túc Chỉ thị 05 của Bộ Chính trị, Chỉ thị 87 của Thường vụ Quân ủy Trung ương về đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh gắn với thực hiện hiệu quả Cuộc vận động "Phát huy truyền thống, cống hiến tài năng, xứng danh Bộ đội Cụ Hồ thời kỳ mới”. Tích cực đấu tranh với những biểu hiện sai trái, xuyên tạc phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ. Tăng cường giáo dục chính trị, định hướng tư tưởng, làm cho mọi cán bộ, chiến sĩ hiểu rõ âm mưu, thủ đoạn nguy hiểm của chiến lược “diễn biến hòa bình”, âm mưu “phi chính trị hóa” quân đội, thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ mà các thế lực thù địch, phần tử cơ hội, phản động đã và đang ráo riết tiến hành; ngăn ngừa văn hóa xấu độc xâm nhập vào đơn vị. Mỗi cán bộ, chiến sĩ trong quân đội cần tích cực, tự giác phấn đấu, rèn luyện hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao, kiên quyết đấu tranh với các biểu hiện lười học tập, ngại rèn luyện, phấn đấu cầm chừng, thỏa mãn, dừng lại...
Đức hy sinh là giá trị nhân cách của quân nhân cách mạng, một trong những chuẩn mực cao quý nhất của Bộ đội Cụ Hồ. Bởi vậy, việc bồi đắp, phát huy cao độ đức hy sinh của Bộ đội Cụ Hồ có ý nghĩa vô cùng quan trọng đối với nhiệm vụ xây dựng Quân đội nhân dân Việt Nam vững mạnh về chính trị, giữ vững bản chất cách mạng, tuyệt đối trung thành với Tổ quốc, với Đảng, Nhà nước và nhân dân, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được giao. Như mong muốn của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng, trong bài phát biểu tại Đại hội đại biểu Đảng bộ Quân đội lần thứ XI: “Toàn quân tiếp tục phát huy truyền thống vẻ vang của Đảng, của dân tộc và của quân đội, mãi mãi xứng danh là "Bộ đội Cụ Hồ", mãi mãi xứng danh là Quân đội anh hùng của một dân tộc anh hùng, mãi mãi bách chiến, bách thắng, lập nhiều chiến công mới, đóng góp nhiều hơn nữa vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa thân yêu của chúng ta, xứng đáng với niềm tin yêu của Đảng, Nhà nước và nhân dân ta”.

Nhân dịp kỷ niệm 76 năm Ngày thành lập Quân đội nhân dân Việt Nam (22-12-1944 / 22-12-2020), 31 năm Ngày hội Quốc phòng toàn dân (22-12-1989 / 22-12-2020), nhìn lại chặng đường vẻ vang xây dựng, chiến đấu, trưởng thành của quân đội với những truyền thống hào hùng, được nhân dân luôn tin yêu, quý trọng và bạn bè quốc tế mến phục, chúng ta càng thêm trân quý đức hy sinh của Bộ đội Cụ Hồ. 

15/12/20

"NGƯỜI CÁCH MẠNG PHẢI CÓ ĐẠO ĐỨC CÁCH MẠNG LÀM NỀN TẢNG MỚI HOÀN THÀNH ĐƯỢC NHIỆM VỤ CÁCH MẠNG VẺ VANG"

Là lời của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong tác phẩm bàn về đạo đức cách mạng, được viết vào tháng 12 năm 1958; trong lúc toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta đang tập trung xây dựng miền Bắc tiến lên chủ nghĩa xã hội và đẩy mạnh công cuộc giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước, thì có một số cán bộ, đảng viên của Đảng đã phai nhạt đạo đức cách mạng, biểu hiện kiêu ngạo, công thần, tự cao tự đại; lòng tham ham muốn danh lợi, địa vị cho riêng mình, không đặt lợi ích của Đảng lên trên hết, không làm đúng với chính sách và nghị quyết của Đảng, lời nói không đi đôi với việc làm; xa rời quần chúng, không được quần chúng tin theo… đã trở ngại lớn đến việc thực hiện nhiệm vụ cách mạng.

Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ rõ vai trò quan trọng của phẩm chất đạo đức đối với người làm cách mạng, yêu cầu cán bộ, đảng viên phải thường xuyên được giáo dục nâng cao tinh thần trách nhiệm, ra sức học tập, tu dưỡng, rèn luyện đạo đức cách mạng, để trong bất cứ hoàn cảnh nào cũng tuyệt đối trung thành với Đảng, quyết tâm suốt đời phấn đấu vì mục tiêu, lý tưởng của Đảng; vì cuộc sống tự do, ấm no, hạnh phúc của nhân dân; thực hiện nghiêm chỉnh đường lối quan điểm, nghị quyết của Đảng, nêu cao tinh thần cách mạng; gương mẫu trong lối sống, sinh hoạt, lời nói đi đôi với việc làm, gặp việc khó không nản chí, đầu tầu làm trước để quần chúng noi theo, làm theo.
Hiện nay, trước yêu cầu cao của nhiệm vụ Bảo vệ Tổ quốc; sự chống phá quyết liệt của các thế lực thù địch; sự tác động từ mặt trái cơ chế thị trường, những tiêu cực trong đời sống xã hội; đặc biệt là tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống và những biểu hiện quan liêu, tham nhũng, lãng phí, tiêu cực, lợi ích nhóm... trong một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên; qua đó càng làm cho Đảng ta nhận rõ hơn giá trị tư tưởng về Lời của Bác Hồ và vai trò, tầm quan trọng của đạo đức cách mạng đối với nhiệm vụ xây dựng, chỉnh đốn Đảng hiện nay.
Thực hiện mục tiêu, lý tưởng của Đảng và lời Bác Hồ dạy, cán bộ, đảng viên và quần chúng trong Đảng bộ Quân đội phải nhận thức sâu vai trò tầm quan trọng về phẩm chất đạo đức cách mạng; thường xuyên tích cực học tập nâng cao năng lực, trình độ toàn diện; tự giác tu dưỡng, rèn luyện đạo đức cách mạng; có bản lĩnh chính trị vững vàng, có lòng trung thành vô hạn với Đảng, Tổ quốc và nhân dân; quan tâm, gắn bó, kính trọng, giúp đỡ nhân dân; kiên quyết đấu tranh ngăn chặn, phòng, chống sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện "tự diễn biến", "tự chuyển hóa" trong nội bộ và tệ quan liêu, tham nhũng, lãng phí; dù trong bất cứ điều kiện, hoàn cảnh nào, cũng tỏa sáng phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ, xứng đáng là mẫu hình tiêu biểu con người mới Việt Nam xã hội chủ nghĩa.

14/12/20

CẢNH GIÁC VỚI UY TÍN GIẢ - TẤM BÌNH PHONG “ CHUI SÂU, LEO CAO”

 Uy tín là tiền đề và điều kiện bảo đảm chắc chắn cho sự thành công trong hoạt động thực tiễn của các tập thể, cá nhân nói chung, đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý nói riêng. Tuy nhiên, thực tế đã và đang xuất hiện loại uy tín giả rất nguy hại, nó ngấm ngầm phá vỡ mối đoàn kết nội bộ, che đậy bản chất và là bình phong để những kẻ cơ hội “chui sâu, leo cao”. Nhận diện những biểu hiện, thủ đoạn và có giải pháp hữu hiệu để ngăn ngừa, đấu tranh với loại uy tín giả là điều cấp thiết trong công tác xây dựng Đảng, nhất là trong xây dựng đội ngũ cán bộ của nhiệm kỳ mới hiện nay.

QUYỀN UY VÀ “DÂN CHỦ GIẢ HIỆU”
Trong công tác lãnh đạo, quản lý, uy tín có vai trò rất lớn đối với hoạt động thực tiễn của người lãnh đạo. Người lãnh đạo có uy tín càng cao thì ảnh hưởng của người đó với tổ chức càng lớn, tính chất ám thị và thuyết phục đối với những người dưới quyền càng tăng lên. Nếu người lãnh đạo không có uy tín thì mọi lời nói và mệnh lệnh sẽ không được cấp dưới thực hiện một cách có hiệu quả. Lúc sinh thời, lãnh tụ Lênin cho rằng: Điều quyết định thành công trong việc lãnh đạo quần chúng không phải bởi sức mạnh của quyền hành mà là sức mạnh của uy tín, sức mạnh của nghị lực, của sự hiểu biết phong phú, của tài năng xuất sắc...
Nói một cách khái quát thì uy tín được hình thành từ 3 yếu tố chính: Phẩm chất, năng lực và phong cách của người lãnh đạo. Nó được thể hiện và đo lường ở “lòng dân”. Như Chủ tịch Hồ Chí Minh từng khẳng định: Người lãnh đạo chỉ có uy tín khi được dân tin, dân phục, dân yêu.
Trong thực tiễn hoạt động lãnh đạo, quản lý ở các cấp, các ngành hiện nay cho thấy, bên cạnh những cán bộ có uy tín đích thực còn có cán bộ cố tình tạo ra cho mình loại uy tín giả danh (giả hiệu). Loại uy tín này được xây dựng không dựa trên những phẩm chất, năng lực và giá trị xã hội đích thực của người lãnh đạo, quản lý mà được chủ thể tạo nên bằng nhiều thủ đoạn. Theo Đại tá, PGS TS Đỗ Duy Môn, nguyên Chủ nhiệm Khoa Tâm lý học Quân sự, Học viện Chính trị thì uy tín giả biểu hiện rất phong phú với nhiều dạng khác nhau. Đó là:
Loại uy tín do hạ thấp yêu cầu hay là “mị dân”, “dân chủ giả hiệu”. Họ giả vờ tỏ ra quan tâm, gần gũi quần chúng, hạ thấp yêu cầu với cấp dưới để lôi kéo tình cảm, sự ủng hộ của cấp dưới theo mình.
Loại uy tín được tạo ra bởi “trấn áp” bằng quyền lực, độc đoán, gia trưởng, tạo khoảng cách đối với cấp dưới. Người lãnh đạo tìm cách phô trương sức mạnh quyền lực, đe dọa cấp dưới; tạo quyền uy, khoảng cách, che đậy bản chất thật.
Loại uy tín do phóng đại thành tích của mình, thổi phồng khuyết điểm người khác. Họ lẩn tránh khuyết điểm của bản thân, nhưng lại khoét sâu hoặc xuyên tạc khuyết điểm người khác; phóng đại thành tích để thông báo, tự ca ngợi mình; luôn đề cao cá nhân, coi mình là nhất...
Uy tín giả tìm mọi cách che mắt tập thể, che mắt cấp trên. Nhất là mỗi khi có sự kiện như: Chuẩn bị đại hội Đảng, làm quy trình nhân sự hay thay đổi đội ngũ cán bộ chủ chốt... Thời điểm này, những kẻ cơ hội tìm mọi cách ban phát những quyền lợi vật chất nhỏ bé, "thiết kế" các cuộc gặp gỡ "chén chú chén anh", cười cợt lừa phỉnh người nhẹ dạ để lôi kéo phe cánh, quần chúng, dùng phiếu bầu để hạ uy tín người khác; họ có thể thu mình, tránh va chạm, nịnh trên, vuốt ve dưới...
UY TÍN GIẢ VÀ CUỘC ĐẤU TRANH CHỐNG “ĐỊCH BÊN TRONG “
Có thể thấy, uy tín giả rất nguy hại, nó tác động và làm suy yếu tổ chức, tập thể, làm méo mó động cơ phấn đấu của cá nhân. Nó ngấm ngầm phá vỡ mối đoàn kết trong tập thể; tạo ra môi trường, tâm lý không lành mạnh với sự ghen ghét, độ kỵ, nghi ngờ trong các thành viên và làm suy giảm hiệu quả công việc của tập thể. Đặc biệt, nếu tổ chức, tập thể không tỉnh táo, dũng cảm để nhận diện và đấu tranh thì uy tín giả sẽ trở thành bình phong để những kẻ cơ hội tiến thân, lọt qua các quy trình để “chui sâu, leo cao” vào các vị trí lãnh đạo, quản lý cao hơn.
Uy tín giả gây tác hại khôn lường, nhưng nhận diện không hề đơn giản vì nó được che đậy tinh vi bằng nhiều thủ đoạn, nó nằm sâu trong động cơ, lợi ích cá nhân của một bộ phận cán bộ lãnh đạo. Phát hiện ra nó phải nhìn nhận từ phẩm chất, năng lực thật sự, đặc biệt là phong cách, phương pháp, tác phong công tác của cán bộ đó. Xem đạo đức, trình độ có tương xứng với cương vị, chức trách không, có độc đoán, gia trưởng hay mị dân, dân chủ giả hiệu không, có thổi phồng thành tích của mình không?...
PGS, TS Đỗ Duy Môn cho rằng, nguyên nhân tạo nên uy tín giả có cả khách quan và chủ quan. Đó là do công tác giáo dục, quản lý đội ngũ cán bộ chưa chặt chẽ, tinh thần dân chủ, tính đấu tranh phê bình, tự phê bình trong tập thể không cao hoặc bị vô hiệu hóa. Bản thân một số cán bộ không có phẩm chất, năng lực đáp ứng chức trách nhiệm vụ được giao, không có nhận thức đúng về uy tín, động cơ sai trái, nhằm mục đích cá nhân, không chịu tu dưỡng, rèn luyện... Lúc sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh từng cho rằng, chủ nghĩa cá nhân là chỉ chăm lo vun vén cho lợi ích riêng, đặt lợi ích của cá nhân, của gia đình mình lên trên lợi ích chung của giai cấp, của dân tộc, “miễn là mình béo, mặc thiên hạ gầy”, nó là nguồn gốc của những “căn bệnh” làm hư hỏng đội ngũ cán bộ, đảng viên, tha hóa Ðảng. Người cũng khẳng định: Chủ nghĩa cá nhân như một thứ vi trùng độc hại, tồn tại dai dẳng trong mỗi người cán bộ, đảng viên, luôn chờ cơ hội để trỗi dậy; là nguy cơ làm suy yếu Đảng, giảm lòng tin của quần chúng đối với Đảng. Người coi chủ nghĩa cá nhân là giặc nội xâm, kẻ thù của những người cách mạng. Người nói: “Địch bên ngoài không đáng sợ. Địch bên trong đáng sợ hơn, vì nó phá từ trong phá ra”, “Muốn đánh thắng kẻ địch bên ngoài thì trước hết phải đánh thắng kẻ địch bên trong của mỗi chúng ta là chủ nghĩa cá nhân”.
PHẢI TINH TƯỜNG, ĐỪNG “THẤY ĐỎ TƯỞNG LÀ CHÍN “
Đấu tranh chống lại các biểu hiện và thủ đoạn để tạo uy tín giả cũng là cuộc đấu tranh chống chủ nghĩa cá nhân. Đây là cuộc đấu tranh lâu dài, đòi hỏi phải có dũng khí, có phương pháp và kiên trì. Nó gắn liền với việc xây dựng tổ chức, xây dựng con người, đặc biệt là đội ngũ cán bộ, gắn với việc tu dưỡng, rèn luyện đội ngũ... Trong xây dựng uy tín thật, đấu tranh với uy tín giả trong đội ngũ cán bộ hiện nay, cần quan tâm và thực hiện quyết liệt đồng bộ nhiều giải pháp.
Trước hết, đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý phải có ý thức và quyết tâm tu dưỡng, rèn luyện về phẩm chất, năng lực, hoàn thiện về nhân cách, xứng đáng với chức trách nhiệm vụ được giao. Muốn có uy tín, mỗi người phải tự học tập, tu dưỡng, tích lũy tri thức, kinh nghiệm, vốn sống, nâng cao năng lực mọi mặt để được đồng nghiệp, quần chúng thừa nhận, tin theo. Đồng thời và quan trọng hơn là đội ngũ cán bộ phải thường xuyên rèn luyện về đạo đức, lối sống cũng như sinh hoạt. Những vi phạm về đạo đức, lối sống bao giờ cũng là nguyên nhân chính, rất nhạy cảm làm giảm sút và mất uy tín của người cán bộ. Cùng với đó, quá trình gây dựng và nâng cao uy tín của người cán bộ cần tạo dựng cho mình một phong cách lãnh đạo, quản lý thích hợp, một phương pháp, tác phong công tác hiệu quả. Một mặt phải tuân thủ các nguyên tắc, quy định, mặt khác phải linh hoạt, thích ứng, không rập khuôn, máy móc, với động cơ thật sự trong sáng vì tập thể, vì cái chung. Cần chống lại mọi biểu hiện như độc đoán, gia trưởng hay mị dân, bệnh công thần, háo danh...
Mặt khác, cần xác lập tốt các mối quan hệ và giao tiếp trong tập thể để hình thành lòng tin, sự tín nhiệm của cấp dưới với người lãnh đạo, quản lý. Nó đòi hỏi người cán bộ phải thật tâm, thật tình, thật tin tưởng khi quan hệ với dưới, được biểu hiện bằng sự quan tâm, chăm lo, ứng xử đúng mực với dưới. Là sự giản dị, khiêm nhường, không định kiến...
Một giải pháp rất căn cơ để xây dựng uy tín đích thực trong tập thể là phải tạo được bầu không khí dân chủ, đoàn kết, tinh thần phê bình và tự phê bình tích cực trong tập thể. Muốn có được điều đó cần quan tâm xây dựng tổ chức, tập thể vững mạnh; cán bộ chủ chốt phải gương mẫu, trách nhiệm; các thành viên đoàn kết, gắn bó.
Cùng với đó, phải kiên quyết đấu tranh chống mọi biểu hiện tiêu cực, các thủ đoạn để tạo dựng uy tín giả. Nó đòi hỏi tổ chức, tập thể phải tinh tường và có dũng khí trong vạch trần các cá nhân có động cơ và việc làm sai trái. Các cá nhân này thường rất tinh vi để che đậy bản chất, đánh lừa tổ chức, tập thể vì mục đích vụ lợi, cá nhân. Trong chuẩn bị nhân sự đại hội Đảng các cấp tiến tới Đại hội XIII của Đảng, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng cũng đã cảnh báo: Đừng “nhìn gà hóa cuốc”, “thấy đỏ tưởng là chín", đừng chỉ thấy "cái mã bên ngoài, nó che đậy cái sơ sài bên trong"...
Uy tín giả làm xói mòn niềm tin của cấp dưới với cấp trên, nói rộng ra là của quần chúng với Đảng. Vì thế đấu tranh chống uy tín giả cũng chính là xây dựng niềm tin, “lòng dân” ở các tổ chức, tập thể, xây dựng đội ngũ cán bộ đáp ứng yêu cầu của tình hình mới hiện nay.
Theo QĐND

Trung sĩ Công an cứu người đuối nước, lan tỏa điều tốt đẹp trong cuộc sống

  Trung sĩ Công an cứu người đuối nước, lan tỏa điều tốt đẹp trong cuộc sống      Phát hiện 2 cháu bé đang chấp chới giữa dòng nước, không q...