Hiển thị các bài đăng có nhãn Lịch sử. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Lịch sử. Hiển thị tất cả bài đăng

10/5/24

Lật tẩy những luận điệu sai trái về chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ

Những ngày qua, khi toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta tổ chức nhiều hoạt động thiết thực kỷ niệm 70 năm Chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ (7/5/1954 – 7/5/2024) thì trên mạng xã hội, các thế lực thù địch, phản động và một số kẻ thiếu thiện chí vẫn tìm cách xuyên tạc bản chất, tính chính nghĩa cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp mà đỉnh cao là Chiến thắng Điện Biên Phủ.
Những luận điệu xuyên tạc lịch sử
Họ cho rằng “đó chỉ là cuộc chiến của hai bên hiếu chiến chứ không phải cuộc chiến chính nghĩa bảo vệ nền độc lập, tự do”; “yếu tố quyết định là Việt Nam nhờ sự viện trợ từ bên ngoài chứ bộ đội, dân công thì không thể “làm nên chuyện””! Đây là những luận điệu nhằm công kích, xuyên tạc bản chất, tính chính nghĩa của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp; tạo sự hoài nghi trong quần chúng nhân dân về chiến thắng lịch sử vĩ đại của dân tộc; hạ thấp uy tín, vai trò lãnh đạo của Đảng, phủ nhận những hi sinh mất mát trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp của quân và dân ta.
Thậm chí càng gần đến ngày lễ lớn của dân tộc thì càng nhiều clip, video được chia sẻ trên mạng xã hội; nhiều trang báo của các thế lực thù địch đăng tải thông tin về Chiến thắng Điện Biên Phủ của nhân dân Việt Nam, xuyên tạc, bóp méo rằng: “Chiến thắng Điện Biên Phủ không gắn liền với sự lãnh đạo của Đảng Lao động Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh”; “Chiến thắng Điện Biên Phủ giành được do thực dân Pháp mắc những sai lầm chiến lược”; “Điện Biên Phủ là sản phẩm ưa thích bạo lực cách mạng của chủ nghĩa cộng sản”…
Họ xảo biện rằng, thực dân Pháp xâm lược Việt Nam là “khai hóa văn minh”; sự kiện Điện Biên Phủ đã chấm dứt “khai hóa văn minh”. Mặt khác, có những kẻ ảo vọng về lòng từ bi của chủ nghĩa thực dân, đế quốc khi cho rằng, làm gì phải phát động chiến tranh, chỉ cần đợi đến lúc nào đó thực dân họ khai hóa văn minh xong rồi sẽ trả lại chủ quyền đất nước!
Tính chất thâm độc, nguy hiểm trong âm mưu, thủ đoạn chống phá của số đối tượng xấu là hướng đến giới trẻ, nhất là những người thiếu hiểu biết lịch sử để gieo rắc tâm lý hoài nghi, thiếu niềm tin về tính chính danh, chính nghĩa của Chiến thắng Điện Biên Phủ. Việc đánh lận bản chất của cuộc chiến tranh là rất nguy hại vì thông qua đó, họ tìm cách hướng lái đến những nhận thức mơ hồ, lệch lạc, làm cho một số người nhẹ dạ, cả tin dễ mất cảnh giác, không nhận thức đúng bản chất chính nghĩa của cuộc kháng chiến chống thực dân, trong đó có Chiến dịch Điện Biên Phủ.
Bên cạnh việc tập trung xuyên tạc vào bản chất, tính chất chính nghĩa của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp của nhân dân ta, các thế lực thù địch, phản động còn vu cáo Việt Nam “hiếu chiến”, từ đó phủ nhận cuộc kháng chiến chính nghĩa bảo vệ nền độc lập, tự do của dân tộc ta. Một số bài viết phủ nhận công lao của Đảng, của Chủ tịch Hồ Chí Minh và vai trò chỉ huy tài ba của Đại tướng Võ Nguyên Giáp; tìm cách phủ nhận tấm gương anh dũng hy sinh của Anh hùng Tô Vĩnh Diện, Phan Đình Giót, Bế Văn Đàn… Mục đích của các thế lực thù địch, phản động nhằm làm cho người dân Việt Nam phân tâm, lung lay tư tưởng; gieo rắc tâm lý hoài nghi vào sự lãnh đạo của Đảng, nghệ thuật quân sự Việt Nam và sự phát triển của các lực lượng vũ trang cách mạng.
Các thế lực thù địch, các tổ chức phản động lưu vong và một số đối tượng chống đối còn lợi dụng tình hình hạn hán, xâm nhập mặn ở các tỉnh phía Nam thời gian qua để xuyên tạc rằng: “Thay vì tổ chức sự kiện to lãng phí tiền của, sao không lấy tiền đó cấp nước cứu dân”; “tiền thuế của dân, thay vì mang nước đến cho dân lại mang đi phô trương lực lượng”; “lực lượng Quân đội, Công an từ dân mà ra nhưng bỏ mặc dân chết khát”; “Đảng chỉ lo phô trương quyền lực thanh thế mà không đoái hoài gì đến người dân đói khát”…
Thậm chí, các đối tượng còn lồng ghép nội dung kích động, phân biệt, kỳ thị vùng miền, cho rằng người miền Nam chỉ giúp người miền Nam, rồi đòi chia lại “Bắc kỳ”, “Nam kỳ”… Từ đó cho rằng, người dân phải đứng lên đấu tranh lật đổ chế độ hiện tại ở Việt Nam thì mới có cơ hội được sống trong một chế độ tự do, dân chủ, có cuộc sống no ấm, hạnh phúc chứ không phải canh cánh lo toan với đói nghèo, thiên tai, lụt bão!
Với những luận điệu xuyên tạc, vu cáo nêu trên, các thế lực thù địch, các tổ chức phản động lưu vong và một số đối tượng chống đối đã cố tình “bẻ lái”, lồng ghép và đưa ra những thông tin xuyên tạc, sai sự thật hòng đánh tráo bản chất, xuyên tạc ý nghĩa, tầm vóc, giá trị lịch sử dân tộc và thời đại của Chiến thắng Điện Biên Phủ, xuyên tạc nghệ thuật quân sự Việt Nam, chiến công và sự hy sinh anh dũng của quân và dân ta; kích động, chia rẽ khối đại đoàn kết dân tộc, phủ định lịch sử dân tộc, lịch sử Đảng, lịch sử các lực lượng vũ trang cách mạng.
Từ truyền thống ngàn năm dựng nước và giữ nước của dân tộc đến chiến thắng lừng lẫy địa cầu
Từ ngày 13/3-7/5/1954, quân và dân ta dưới sự lãnh đạo của Đảng, đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh đã tiến hành trận quyết chiến chiến lược Điện Biên Phủ. Vượt qua bom đạn của kẻ thù, vượt qua điều kiện khắc nghiệt của địa hình, thời tiết, hàng ngàn tấn lương thực, thực phẩm, xăng dầu, vũ khí, đạn dược được quân và dân cả nước vận chuyển đến mặt trận Điện Biên Phủ cho bộ đội bằng những phương tiện thô sơ để góp phần vào thắng lợi cuối cùng. Kỳ tích đó nằm ngoài suy nghĩ của thế lực vốn lấy sức mạnh vũ khí làm cơ sở giải quyết chiến tranh và không hiểu được sự đồng lòng, ủng hộ toàn tâm, toàn ý của cả dân tộc.
Cùng với Chiến thắng Bạch Đằng (938) của Ngô Quyền, Chiến thắng Chi Lăng – Xương Giang (1427) của Lê Lợi – Nguyễn Trãi, Chiến thắng Ngọc Hồi – Đống Đa của Quang Trung (1789), Chiến thắng Điện Biên Phủ là một bản hùng ca bất hủ, là một trong những chiến thắng hiển hách của lịch sử hàng ngàn năm đấu tranh chống ngoại xâm dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt Nam. Là thắng lợi của khát vọng hòa bình, độc lập, tự do, của ý chí tự lực, tự cường; thắng lợi của phong trào giải phóng dân tộc, dân chủ nhân dân trên thế giới và của lương tri thời đại.
Chiến thắng Điện Biên Phủ đã giáng đòn quyết định, chấm dứt gần 100 năm Việt Nam là thuộc địa của Pháp, buộc Chính phủ Pháp phải ký Hiệp định Giơnevơ, chấm dứt chiến tranh ở Đông Dương, mở ra trang mới cho cách mạng Việt Nam; đồng thời là một sự kiện quan trọng báo hiệu sự sụp đổ của chủ nghĩa thực dân cũ trên phạm vi toàn thế giới. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng khẳng định: “Chiến thắng Điện Biên Phủ như là một cái mốc chói lọi bằng vàng của lịch sử”.
Trên phương diện quốc tế, cuộc kháng chiến trường kỳ, gian khổ, nhân dân Việt Nam đã nhận được sự ủng hộ mạnh mẽ, sự giúp đỡ quý báu của các nước XHCN anh em, nhận được sự ủng hộ của nhân dân các dân tộc bị áp bức ở châu Á, châu Phi, Mỹ La tinh, đặc biệt là liên minh chiến đấu giữa ba nước Đông Dương và phong trào đấu tranh của nhân dân tiến bộ trên thế giới, trong đó có nhân dân tiến bộ Pháp. Chiến dịch Điện Biên Phủ đã mang một ý nghĩa rất lớn và đã đi vào lịch sử nhân loại, bởi đây là lần đầu tiên quân đội của một nước từng là thuộc địa ở châu Á đánh bại đội quân hiện đại và tối tân của một cường quốc châu Âu, được hỗ trợ bởi đế quốc Mỹ trong một chiến dịch quân sự lớn.
Kết cục chiến dịch này được xem là một thảm họa bất ngờ đối với thực dân Pháp và cũng là một đòn giáng mạnh với thế giới phương Tây, đã đánh bại âm mưu duy trì chế độ thuộc địa ở Đông Dương của Pháp. Chiến thắng góp phần to lớn vào phong trào đấu tranh vì hòa bình, tiến bộ của nhân loại; thôi thúc, cổ vũ các nước thuộc địa ở châu Á, châu Phi và Mỹ Latin đứng lên tự giải phóng, thoát khỏi ách xâm lược của chủ nghĩa thực dân, đế quốc.
Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, bất cứ lịch sử xâm chiếm thực dân nào thì từ đầu đến cuối đều được viết bằng máu của những người bản xứ. Đó không phải là công cuộc “khai hóa văn minh” mà chỉ mượn đó làm tấm bình phong để thực hiện dã tâm áp bức, nô dịch. Trong “Tuyên ngôn độc lập” khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã lên án chế độ thực dân: “Về kinh tế, chúng bóc lột dân ta đến tận xương tủy, khiến cho dân nghèo nàn, thiếu thốn, nước ta xơ xác, tiêu điều. Chúng cướp không ruộng đất, rừng mỏ, nguyên liệu… Chúng đặt ra hàng trăm thứ thuế vô lý, làm cho dân ta, nhất là dân cày và dân buôn trở nên bần cùng. Chúng không cho các nhà tư sản ta được giàu lên. Chúng bóc lột công nhân ta một cách vô cùng tàn nhẫn”… Do đó, không thể gọi là “khai hóa văn minh” khi biến một dân tộc độc lập, có chủ quyền thành quốc gia thuộc địa, nửa phong kiến. Những kẻ rêu rao Pháp xâm lược Việt Nam là “khai hóa văn minh”, chiến thắng Điện Biên Phủ là chấm dứt sự “khai hóa văn minh”, đó là những luận điệu xuyên tạc sự thật, bẻ cong lịch sử.
70 năm, thời gian lùi xa nhưng ý nghĩa và bài học lịch sử của Chiến thắng Điện Biên Phủ vẫn còn vang vọng mãi, tiếp thêm sức mạnh, động lực cho toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta trên con đường đổi mới, hội nhập và phát triển, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Trong mỗi trái tim người Việt Nam nói chung và thế hệ trẻ ngày nay nói riêng đều dâng trào niềm kiêu hãnh, tự hào về chiến công hiển hách, tinh thần quật khởi của cha anh, có sức lan tỏa mạnh mẽ, trở thành một trong những động lực tinh thần to lớn giúp thế hệ trẻ ngày nay có thêm điểm tựa để tích cực rèn luyện, phấn đấu xây dựng quê hương, đất nước ngày càng giàu mạnh.
Ngày nay, Việt Nam và Pháp cũng đã vun đắp nên mối quan hệ Đối tác chiến lược, cùng hợp tác, phát triển. Trong dịp kỷ niệm 70 năm Chiến thắng Điện Biên Phủ, Bộ trưởng Quân đội Pháp Sébastien Lecornu cùng Quốc Vụ khanh phụ trách Cựu Chiến binh và Ký ức chiến tranh đã đến thăm Việt Nam và dự Lễ Kỷ niệm tháng tại Điện Biên Phủ, điều đó thể hiện tinh thần “khép lại quá khứ, hướng tới tương lai”, cùng hợp tác vì sự phát triển của quốc gia và nhân dân hai nước.
Đại sứ Pháp tại Hà Nội Olivier Brochet khẳng định, Pháp đánh giá cao vị thế, vai trò của Việt Nam và mong muốn tiếp tục thúc đẩy quan hệ Đối tác chiến lược giữa hai nước phát triển sâu rộng, toàn diện hơn nữa trong thời gian tới. Do đó, việc tổ chức lễ kỷ niệm hoàn toàn không phải là để chia rẽ mối quan hệ Việt – Pháp như những giọng điệu xảo trá, âm mưu, thủ đoạn thâm độc của một số đối tượng xấu tung ra.

Tự hào ký ức người dân công hỏa tuyến


Chúng tôi ghé thăm ngôi nhà nhỏ của bà Nguyễn Thị Lý - nữ dân công hỏa tuyến tham gia vận chuyển lương thực cho quân đội ta tại chiến dịch Điện Biên Phủ ở Tổ dân phố 8, phường Nam Thanh, thành phố Điện Biên Phủ (tỉnh Điện Biên). Năm nay, dù đã bước sang tuổi 90, bà vẫn khá nhanh nhẹn, rạng rỡ chào khách.
Bà Lý sinh ra và lớn lên ở xã Hạnh Phúc, huyện Thọ Xuân, tỉnh Thanh Hóa. Năm 1953, hưởng ứng lời kêu gọi toàn dân tham gia vận tải lương phục vụ chiến dịch Điện Biên Phủ, nữ thanh niên hăng hái lên đường. “Ngày đó, khắp đường làng ngõ xóm đều trưng khẩu hiệu “Tất cả cho tiền tuyến, tất cả để chiến thắng”. Người dân đều một lòng tự nguyện hướng đến chiến dịch cho nên hễ bước chân ra đường là không khí đông như hội. Người già, trẻ con ở lại nhưng cổ vũ rất hăng say”, bà kể trong niềm tự hào ngập tràn ánh mắt.
Dù gấp rút, việc vận chuyển lương thực lại ngổn ngang, nhưng chính quyền ở địa phương vẫn “xét tuyển”. Những ai đủ yêu cầu cả về thể chất lẫn tinh thần sẽ nhận nhiệm vụ. Địa phương bà ở lúc đó có hàng trăm thanh niên nô nức mong chờ được lên đường. Toàn bộ lương thực, thực phẩm và hàng hóa thiết yếu từ khắp tỉnh được tập trung về kho Lược ở Thọ Xuân và kho Cẩm Thủy. Từ hai đầu mối này, lương thực tiếp tục được vận chuyển theo nhiều hướng với nhiều cung đường khác nhau để bảo đảm an toàn, bí mật, tránh quân địch phát hiện.
Cho đến bây giờ, sức khỏe, trí nhớ đã giảm sút nhưng bà Lý vẫn kể vanh vách các cung đường huyết mạch: Từ Thọ Xuân lên Lang Chánh đến Hồi Xuân (Quan Hóa); từ Thọ Xuân qua Cẩm Thủy, lên Bá Thước rồi về Hồi Xuân. Xa hơn, gian nan hơn phải kể đến cung đường từ Hồi Xuân đến Suối Rút (Mai Châu-Hòa Bình), tiếp tục băng qua ngã ba Cò Nòi (Sơn La) rồi qua đèo Pha Đin, đến huyện Tuần Giáo (Điện Biên). Chặng đường hiểm trở chính là lúc chuyển lương thực vào kho lớn tại khu rừng Nà Tấu, cách trận địa gần 40 km. Một hướng khác đi từ Phú Lệ (Quan Hóa), xuyên rừng qua huyện Mường Lát, sang Thượng Lào rồi vòng về Điện Biên...
Thuở ấy, trung bình mỗi nữ dân công hỏa tuyến gánh vài chục cân gạo từ quê hương mình hành trình lên kho ở Suối Rút để vận chuyển đi Sơn La và lên chiến trường Điện Biên. Đoàn dân công tải lương đi nhiều đường khác nhau và thường đi vào ban đêm. Tính trọng lượng thì không quá nhiều, nhưng đường xa hiểm trở, lại trong hoàn cảnh chiến tranh cho nên không hề đơn giản. Đường rừng đèo cao dốc thẳm, bom đạn suốt ngày đêm, nhiều nữ dân công đau ốm, sốt rét và có những người đã trút hơi thở cuối cùng trên chặng đường ấy. Phần lương thực lại san sẻ lên đôi vai những người đồng hành.
“Nữ thì gánh gồng, nam thì xe thồ, xe đạp... cứ thế nối nhau trèo đèo, lội suốt tiến thẳng hướng chiến dịch. Đến bây giờ tôi chẳng thể nhớ đi bao nhiêu chuyến, làm sao mà nhớ được. Mà không chỉ tôi, chẳng ai nhớ nổi đâu...” - đôi mắt bà Lý hoen đỏ trong mạch chuyện về ký ức hào hùng mà gian lao thuở ấy.
Đến một ngày, lúc đang trên chặng đường đầy vất vả, đội dân công hỏa tuyến được truyền tin: “Giải phóng rồi! Điện Biên Phủ đã giải phóng!” Trong phút chốc, cả khoảnh rừng im ắng bỗng vỡ òa bởi tiếng hò reo của hàng chục nghìn dân công. Và sau đó là những cái ôm siết thật chặt, nước mắt cứ thế tuôn chảy.
Trong chiến dịch Điện Biên Phủ, Thanh Hóa là một trong những địa phương có đóng góp to lớn của lực lượng thanh niên xung phong, dân công hỏa tuyến. Tất cả những lần Trung ương giao vận chuyển lương thực, Thanh Hóa đều hoàn thành và vượt chỉ tiêu. Khi chiến dịch chuyển sang giai đoạn kết thúc, Trung ương giao Thanh Hóa huy động đợt 3 với chỉ tiêu 2.000 tấn gạo và 282 tấn thực phẩm.
Lúc này thóc dự trữ của tỉnh không còn, mùa vụ chưa đến kỳ thu hoạch, nhân dân đã “dốc bồ, đổ thúng” cung cấp cho tiền tuyến những hạt thóc cuối cùng; nhiều gia đình (mà đa phần là người già và trẻ em) phải ăn khoai sắn cầm hơi. Bà Lý kể, thậm chí, các xã, các thôn còn huy động nông dân ra đồng cắt tỉa từng bông lúa chín trước để có lương thực cho chiến dịch. Ngoài lương thực, các tỉnh miền trung cũng đóng góp lớn về sức người. Đã có vài nghìn người miền trung là dân công hỏa tuyến, bộ đội chủ lực... tham gia chiến dịch. Nhiều người hy sinh, vĩnh viễn nằm lại trên đất Điện Biên khói lửa.
Chồng bà Lý - ông Hoàng Hải (đã mất) là người cùng xã với bà, là chiến sĩ Trung đoàn 174, đánh đồi A1 trong chiến dịch Điện Biên Phủ. Sau những năm tháng tham gia tải lương phục vụ chiến dịch, những dân công hỏa tuyến như bà Lý hay bộ đội như ông Hải lại tiếp tục tham gia cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước. Bà được Nhà nước ghi công và tặng thưởng Huân chương Kháng chiến chống Mỹ, cứu nước hạng nhất.
70 năm trôi qua, giờ đây thế hệ những người “thồ hàng, gánh gạo, mở đường cho xe qua” ngày càng thưa vắng. Mỗi dịp kỷ niệm Chiến thắng Điện Biên Phủ hay có ai đó tới thăm, nhắc về ký ức, bà Lý lại bồi hồi, nao nức như trở về khí thế của tuổi đôi mươi. Sau kháng chiến, những người may mắn còn lại như vợ chồng ông Hải, bà Lý tự nguyện bám trụ vùng đất chiến trường xưa, lao động trên nông trường, chung tay xây dựng đất nước.
Trong suốt cuộc chuyện trò, bà Lý luôn cười, ngay cả khi khóe mắt rưng rưng. Nhưng có những khoảng lặng không dễ gì khỏa lấp. Bà tránh nhắc về nỗi đau của riêng mình cho nên ít ai biết rằng, bà là một người mẹ đã lần lượt mất đi nhiều đứa con ở nhiều giai đoạn cuộc đời. Cố nén nỗi đau riêng để hòa mình vào gian lao của đồng bào, của đất nước là phẩm chất quý báu của biết bao con người đã đi qua chiến tranh.
Thành phố Điện Biên Phủ trong dịp Kỷ niệm 70 năm Chiến thắng Điện Biên Phủ rực rỡ cờ hoa, nhiều công trình mới khang trang chào mừng lễ kỷ niệm. Từ vùng đất từng một thời bị tàn phá nặng nề bởi chiến tranh, Điện Biên đang vươn mình mạnh mẽ. Những chứng tích lịch sử giờ đây trở thành địa chỉ đỏ hướng đồng bào cả nước về nguồn. Những nhân chứng sống với bầu ký ức lúc vẹn nguyên, khi mờ ảo. Và điều quan trọng nhất là họ luôn tự hào sau bao hy sinh đầy lặng lẽ.

Kỷ niệm 70 năm Chiến thắng Điện Biên Phủ


(7/5/1954 - 7/5/2024)
Chiến thắng Điện Biên Phủ của dân tộc Việt Nam là biểu tượng của phong trào giải phóng các dân tộc thuộc địa, các dân tộc bị áp bức, bóc lột trên thế giới.
Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã từng nói: "Điện Biên Phủ là điểm hẹn mà lịch sử dành cho những cuộc chiến tranh xâm lược trong thời đại ngày nay."
Lịch sử Việt Nam đã trải qua bao thử thách. Mỗi khi có giặc ngoại xâm, tinh thần độc lập, khát khao tự do lại vượt lên tất cả. Điện Biên Phủ là minh chứng cho tinh thần và khát khao ấy, cũng là "điểm hẹn mà lịch sử dành cho các cuộc chiến tranh xâm lược."

25/3/24

Tưởng niệm 602 năm Ngày mất Hoàng đế Hồ Quý Ly

 Tưởng niệm 602 năm Ngày mất Hoàng đế Hồ Quý Ly




Ngày 24/3, tại di tích Đàn tế Nam Giao ở thị trấn huyện Vĩnh Lộc, Hội đồng họ Hồ Thanh Hóa phối hợp Trung tâm bảo tồn Di sản thành nhà Hồ tổ chức Lễ tưởng niệm 602 Ngày mất Hoàng đế Hồ Quý Ly (1422-2024) và kỷ niệm 622 năm Vương triều Hồ lập Đàn tế Nam Giao (1402-2024).
Tại buổi lễ, các đại biểu cùng con cháu họ Hồ, khách thập phương thành kính dâng hương, hoa, lễ vật; đại diện dòng họ Hồ Thanh Hóa trình tấu chúc văn tưởng niệm 602 năm Ngày mất Hoàng đế Hồ Quý Ly, ôn lại công lao, đóng góp của Hồ Quý Ly trong lịch sử dân tộc.
Quyết định chuyển kinh đô từ Thăng Long về Thanh Hóa, đăng quang vào mùa Xuân năm Canh Thìn (1400), đặt quốc hiệu là Đại Ngu, Hồ Quý Ly cùng triều Hồ đã ban hành, triển khai những cải cách về hành chính, giáo dục khoa cử, kinh tế, quân sự nhằm chấn hưng đất nước.
Nổi bật là triều Hồ để lại cho hậu thế Thành nhà Hồ, công trình kiến trúc đá độc đáo, đã được công nhận Di sản văn hóa thế giới cùng Đàn tế Nam Giao triều Hồ. Đàn tế Nam Giao Thành Nhà Hồ là một trong ba đàn tế còn mặt bằng tương đối nguyên vẹn, cổ nhất trong lịch sử Đàn tế Nam Giao ở Việt Nam.
Tưởng niệm 602 năm Ngày mất Hoàng đế Hồ Quý Ly và kỷ niệm 622 năm Vương triều Hồ lập Đàn tế Nam Giao góp phần bảo tồn, phát huy giá trị Di sản văn hóa thế giới Thành nhà Hồ cùng văn hóa Tây Đô.
Tại buổi lễ, Nhà hát Nghệ thuật truyền thống Thanh Hóa biểu diễn chương trình nghệ thuật tái hiện thân thế, sự nghiệp và những đóng góp của Hồ Quý Ly đối với quê hương, đất nước.

2/1/23

THỦ ĐOẠN VIẾT LẠI LỊCH SỬ, LÀM SAI LỆCH CHIẾN THẮNG ''HÀ NỘI - ĐIỆN BIÊN PHỦ TRÊN KHÔNG''

 50 năm đi qua, đã có rất nhiều cuộc hội thảo, nghiên cứu làm sáng tỏ bản chất, ý nghĩa chiến thắng “Điện Biên Phủ trên không”. Những số liệu đưa ra đã được thẩm định, đánh giá với bằng chứng xác thực, cả phía Mỹ và Việt Nam đều thừa nhận chứ không phải là những con số tự nghĩ ra hay thích thì ghi số này, sau lại sửa số khác. Cần khẳng định rõ, chiến thắng “Điện Biên Phủ trên không” có được nhờ đường lối chiến tranh nhân dân đúng đắn và nghệ thuật quân sự tài tình của Việt Nam.

Trong những ngày cuối tháng 12/2022, các cơ quan chức năng triển khai nhiều hoạt động ý nghĩa, thiết thực nhân kỷ niệm 50 năm chiến thắng “Điện Biên Phủ trên không” (12/1972 – 12/2022). Chiến thắng “Điện Biên Phủ trên không” là một mốc son chói lọi trong lịch sử đấu tranh dựng nước, giữ nước của dân tộc ta. Thế nhưng trong dịp này, các thế lực xấu lại rêu rao, đưa ra nhiều bài viết xuyên tạc lịch sử, cho rằng chiến thắng “Điện Biên Phủ trên không” chỉ là do “gặp thời”, “may mắn”. Họ còn cho rằng quân và dân Việt Nam sẽ không thể làm nên một “Điện Biên Phủ trên không” nếu khi đó Mỹ tiếp tục duy trì cuộc ném bom hủy diệt miền Bắc thêm một thời gian nữa. Có bài viết “vặn” vấn đề rằng, Mỹ ký Hiệp định Paris là do phía Mỹ chủ động chứ không phụ thuộc vào kết quả cuộc ném bom trong 12 ngày đêm cuối năm 1972 tại miền Bắc Việt Nam...

Một bài viết đăng trên BBC News Tiếng Việt cho rằng, trong cuộc chiến tranh 12 ngày đêm ấy, các phi công Mỹ bị bắt, cầm tù, tra tấn và thường xuyên bị bêu riếu trên truyền hình, tạo sức ép cho chính quyền Mỹ phải ngồi vào bàn đám phán Paris mới được đưa tù binh Mỹ về nước. Họ biến mọi con số thống kê thành ảo khi nghi ngờ rằng, Việt Nam cố tình thống kê quá mức con số bắn hạ máy bay B52 để khuếch trương thanh thế!

Mới đây, trên Quora, thiếu tá Keith Parker từng phục vụ trên các máy bay B-52G và C-130 cố tình xuyên tạc sự thật khi viết rằng, Việt Nam đã bắn hơn 1.400 tên lửa SAM[1]2 lên bầu trời “một cách mù quáng” để hạ gục các máy bay B-52 chứ không phải là do thực lực của phòng không Việt Nam. Keith Parker cho rằng, Bộ Chỉ huy phòng thủ hàng không vũ trụ Bắc Mỹ (NORAD) và Bộ Tư lệnh Không quân Chiến lược (SAC) đã tự nghiên cứu rất nhiều phương pháp chống B-52 nhưng đều thất bại, ngay cả những quốc gia như Liên Xô cũng đều không dám tự tin hạ gục B-52. Từ đó, đánh lái bản chất sự kiện này thành “Việt Nam đã thất bại vào 12/1972 chứ không phải là một chiến thắng như họ tuyên truyền.

Thủ đoạn viết lại lịch sử, làm sai lệch chiến thắng “Điện Biên Phủ trên không” -0
Máy bay B-52 đầu tiên bị Tiểu đoàn 59, Trung đoàn Tên lửa 261 bắn rơi trên cánh đồng Chuôm, xã Phù Lỗ, Đông Anh (Hà Nội) vào đêm 18/12/1972. Ảnh: Tư liệu

Thiệt hại của Việt Nam nặng nề hơn trong khi chỉ bắn hạ được 2% số B-52 mà Hoa Kỳ có”! Một số cựu phi công của Hạm đội 7 cho rằng, Việt Nam đã may mắn bắn hạ được B-52 nhờ vào chiến thuật “vãi đạn”; là kết quả của chiến thuật sử dụng hỏa lực phòng không “bừa bãi” để hạ gục B-52 chứ không đến từ sự tính toán chiến thuật và năng lực phòng không! Gary Cummings, một cựu binh từng tham chiến tại Việt Nam còn đặt một giả thuyết rằng, tất cả đều do chính những sĩ quan Liên Xô mới bắn rụng B-52 chứ không có bộ đội nào của Việt Nam bắn hạ. Một cựu binh khác là Paul Reinman còn khôi hài hơn khi cho rằng, phi công MiG của Việt Nam đã bắn hạ B-52 là “do vô tình lạc vào đường bay của B-52 chứ không phải là do năng lực”! Trong một diễn đàn tự cho là “nghiên cứu lịch sử”, có một số người cổ suý những quan điểm lệch lạc trên, từ đó bình luận rằng, Việt Nam đã may mắn bắn hạ B-52 vì sự chủ quan của đối phương, vì trời tối, vì sự chủ quan của quân Mỹ…

Những luận điệu trên làm sai lệch bản chất sự kiện, tung ra những con số ảo và tạo nghi vấn về các số liệu lịch sử nhằm gây nhiễu loạn thông tin, xuyên tạc ý nghĩa, giá trị của chiến thắng “Điện Biên Phủ trên không”. Trên thực tế, chính Mỹ đã thừa nhận mình là bên không chịu nổi tổn thất và buộc phải ra lệnh chấm dứt ném bom miền Bắc và ngồi vào bàn đám phán ký kết Hiệp định Paris.

50 năm đi qua, đã có rất nhiều cuộc hội thảo, nghiên cứu làm sáng tỏ bản chất, ý nghĩa chiến thắng “Điện Biên Phủ trên không”. Những số liệu đưa ra đã được thẩm định, đánh giá với bằng chứng xác thực, cả phía Mỹ và Việt Nam đều thừa nhận chứ không phải là những con số tự nghĩ ra hay thích thì ghi số này, sau lại sửa số khác. Cần khẳng định rõ, chiến thắng “Điện Biên Phủ trên không” có được nhờ đường lối chiến tranh nhân dân đúng đắn và nghệ thuật quân sự tài tình của Việt Nam.

Với tầm nhìn xa, trông rộng, Đảng và Bác Hồ đã sớm chỉ đạo bộ đội Phòng không - Không quân chuẩn bị tinh thần và lực lượng để đánh máy bay B.52 và các loại máy bay chiến thuật khác từ nhiều năm trước đó. Trong 12 ngày đêm của chiến dịch lịch sử, quân và dân ta đã chiến đấu anh dũng, không khoan nhượng.

Chiến thắng ấy là sự minh chứng hùng hồn sức mạnh của con người Việt Nam, sức mạnh của sự kết hợp hài hòa các yếu tố cách mạng và khoa học, giữa bản lĩnh vững vàng, khí phách tiến công, quyết đánh và trí tuệ để đánh thắng, sự kết hợp giữa tinh thần quyết chí, tin tưởng với đức hy sinh cao thượng.

Thực tế lịch sử ghi rõ, tháng 12/1972, Mỹ tiến hành cuộc tập kích đường không chiến lược bằng B.52 nhằm gây sức ép buộc ta phải chấp nhận ký Hiệp định Pari theo các điều khoản sửa đổi của Mỹ; đánh phá, hủy diệt tiềm lực kinh tế - quốc phòng của miền Bắc, hạn chế sự chi viện cho cách mạng miền Nam, làm tê liệt ý chí chiến đấu, quyết chiến, quyết thắng của dân tộc ta; đe dọa phong trào đấu tranh của nhân dân thế giới. Thực hiện âm mưu này, Mỹ đã huy động số lượng lớn máy bay, tàu chiến và các loại vũ khí vào chiến dịch.

Đây là cuộc huy động lực lượng tập kích đường không lớn nhất của Mỹ kể từ sau đại chiến thế giới lần thứ hai đến năm 1972. Trong đó, máy bay chiến lược B.52 gồm 193/tổng số 400 chiếc hiện có của quân đội Mỹ; máy bay không quân chiến thuật gồm 1.077/tổng số 3.043 chiếc (có 1 biên đội máy bay F. 111 khoảng 50 chiếc); tàu sân bay với 6/24 chiếc; hơn 50 máy bay tiếp dầu trên không và một số loại máy bay phục vụ khác như máy bay gây nhiễu từ xa, máy bay trinh sát chiến lược, chiến thuật, máy bay chỉ huy, liên lạc dẫn đường, cấp cứu cùng 60 tàu chiến các loại của Hạm đội 7 ở Thái Bình Dương. Máy bay chiến lược B.52, còn được gọi là siêu pháo đài bay B.52, là máy bay chiến đấu hiện đại nhất của không lực Hoa Kỳ vào thời điểm đó, có tải trọng vũ khí 18 - 30 tấn bom, có thể mang 12-20 quả tên lửa hành trình ALEM hoặc 8 tên lửa hành trình (tàng hình) ACM, 4 pháo 20mm hoặc một pháo 20mm 6 nòng (gấp 10 lần so với máy bay cường kích). Cuộc tập kích đường không chiến lược của đế quốc Mỹ vào miền Bắc nước ta cuối tháng 12/1972 là một cuộc ném bom có tính hủy diệt.

Trong 12 ngày và đêm, Mỹ đã sử dụng 663 lần máy bay B.52 và 3.920 lần máy bay chiến thuật ném xuống Hà Nội, Hải Phòng và một số thành phố, thị xã trên miền Bắc nước ta hơn 100.000 tấn bom, đạn. Chiến dịch thả bom đã huỷ diệt nhiều phố xá, làng mạc, phá sập 5.480 ngôi nhà, trong đó có gần 100 nhà máy, xí nghiệp, trường học, bệnh viện, nhà ga, giết chết 2.368 dân thường, làm bị thương 1.355 người khác.

Với sự chủ động, sáng tạo của nghệ thuật quân sự Việt Nam, qua nhiều năm nghiên cứu, tìm tòi cách đánh máy bay B.52, các lực lượng vũ trang ta với nòng cốt là quân chủng Phòng không - Không quân và nhân dân miền Bắc, nhất là quân dân Thủ đô Hà Nội đã phát huy sức mạnh tổng hợp của thế trận phòng không nhân dân vững chắc, hợp đồng tác chiến chặt chẽ giữa các lực lượng, quyết đánh, biết đánh và quyết thắng.

Ngay từ trận đầu ra quân, đêm 18/12/1972, ta đã bắn rơi tại chỗ “siêu pháo đài bay B.52”, mở màn cho những thắng lợi vang dội trong những trận đánh tiếp theo. 12 ngày đêm chiến đấu anh dũng, kiên cường, mưu trí, sáng tạo, quân vàdân ta đã đánh bại hoàn toàn cuộc tập kích chiến lược đường không quy mô lớn chưa từng có, chủ yếu bằng B.52 của Mỹ, làm nên chiến thắng “Điện Biên Phủ trên không”. Sau thất bại này, Mỹ phải tuyên bố ngừng ném bom từ vĩ tuyến 17 trở ra và chấp nhận quay trở lại bàn đàm phán. Ngày 27/01/1973, Hiệp định Paris về chấm dứt chiến tranh, lập lại hoà bình ở Việt Nam được ký kết. Cuối tháng 3/1973, quân đội Mỹ và chư hầu phải rút khỏi miền Nam Việt Nam.

Không chỉ Việt Nam mà các nghiên cứu từ phía Mỹ cũng đã nhìn nhận rõ vấn đề này. Trên tạp chí Air & Space của Bảo tàng Smithsonian (Mỹ) có bài viết tựa đề “The Christmas Bombing” (Trận mưa bom Giáng sinh) được trích từ cuốn sách The Eleven Days of Christmas: Americas Last Vietnam Battle (11 ngày Giáng sinh: Trận chiến Việt Nam cuối cùng của Mỹ) của tác giả Marshall Michel, người đã trực tiếp đến Hà Nội, mô tả khá chi tiết về chiến dịch Linebacker II do Mỹ chủ mưu. Theo tác giả Marshall Michel, đầu tháng 12/1972, Nixon điện cho Kissinger thông báo kế hoạch ném bom trong kỳ nghỉ lễ Giáng sinh.

Ngày 14/12, Nixon họp với cố vấn an ninh Kissinger, tướng Alexander Haig và chủ tịch Hội đồng tham mưu trưởng liên quân, đô đốc Thomas Moorer thông qua lần cuối chiến dịch Linerbacker II. Mục tiêu mà Mỹ đặt ra là duy trì nỗ lực tối đa để phá hủy tất cả các tổ hợp mục tiêu chính ở khu vực Hà Nội và Hải Phòng và các vùng lân cận, tạo ra “cường độ khủng khiếp để buộc Việt Nam Dân chủ cộng hòa phải chấp nhận điều khoản của Mỹ, và cho chính quyền Nguyễn Văn Thiệu thấy rằng Mỹ không bỏ rơi họ”. Cũng qua chiến dịch này, Nixon muốn răn đe Sài Gòn nếu giúp Nixon kéo dài đàm phán, xa hơn là giúp Nixon chiến thắng trong nhiệm kỳ tổng thống tiếp theo thì Mỹ sẽ tiếp tục viện trợ...

Bài viết trên tạp chí Air & Space cũng nêu rõ, do thiệt hại ngoài sức tưởng tượng nên ngày 30/12/1972, Tổng thống Nixon đã ra lệnh chấm dứt ném bom… Vậy là Hiệp định Paris đã được ký với nội dung về cơ bản không khác mấy so với phương án đã được ký tắt trước khi đàm phán bị kéo dài do Mỹ từ chối ký kết trước đây. Bài viết cũng cho rằng, Mỹ đã chịu rất nhiều tổn thất để rồi vẫn phải ký vào văn bản mà họ không muốn ký, điều này đồng nghĩa là mục tiêu của Mỹ khi phát động chiến dịch Linebacker II thực sự thất bại. Chiến dịch Linebacker II bị phản đối mạnh mẽ trên khắp thế giới, cả ở các nước XHCN lẫn các nước phương Tây, thậm chí tại Mỹ, Nixon còn bị chỉ trích là kẻ điên rồ…

NGUYỄN CAO KỲ ĐÃ TÁT VÀO BỌN QUAN THẦY VÀ NHÓM TÀN QUÂN NGỤY CUỐI ĐỜI ÔNG ĐÃ LÀM ĐƯỢC TRÁCH NHIỆM CỦA MỘT CON NGƯỜI

 Ông Nguyễn Cao Kỳ bắt đầu bị nhóm hải ngoại ghét từ năm 1977 khi ông ta trả lời phỏng vấn BBC và nói rằng:

* “Điều mà miền Nam Việt Nam cần là một người như Hồ Chí Minh (What South Vietnam need is a man like Ho)”.
- Những câu nói nổi tiếng khác của ông:
- “Việt Cộng gọi chúng tôi là những con rối, những con bù nhìn của người Mỹ. Nhưng rồi chính nhân dân Mỹ cũng gọi chúng tôi là những con bù nhìn của người Mỹ, chứ không phải là lãnh tụ chân chính của nhân dân Việt Nam.”
- “Hãy coi rằng ngày 30 tháng 4 là ngày quốc giỗ của Việt Nam Cộng hòa.”
- “Nước Việt Nam có mất cho Tây cho Tàu đâu mà phục quốc? Chưa kể là một số người cho là 3 triệu người hải ngoại là nhân danh Tổ quốc. Và tôi từng hỏi nếu họ thật sự yêu nước thì họ phải biết ngồi im và biết suy nghĩ chứ đừng đi theo một lũ côn đồ, hám danh hám lợi, lừa gạt mọi người. Cứ nhân danh chính nghĩa quốc gia, nhân danh tự do dân chủ, nhân danh chống cộng, dân chủ mà đi lừa gạt người ta… Mặc dù hàng ngày trong suốt hơn 30 năm rồi, bất kỳ một ông chính trị gia nào, một ông chủ bút nào cũng ra rả: “Chúng ta có sức mạnh, chúng ta có trí tuệ, chúng ta có chất xám, chúng ta có tiền, giờ chúng ta chỉ cần đoàn kết chúng ta sẽ có sức mạnh thay đổi chế độ trong nước”. Nhưng trong suốt hơn 30 năm nay ở hải ngoại chưa bao giờ làm được chuyện đó và tôi nghĩ sẽ không bao giờ làm được. Bởi vì với kinh nghiệm hơn 30 năm cho thấy: khi tiền dồn lại cho một anh thì anh đó ôm tiền đi … trốn luôn.”

- “Một chính quyền độc đảng mang đến sự ổn định và kỷ luật thì cần thiết cho Việt Nam để ra khỏi sự nghèo khổ… Tôi cho rằng, thật là sai lầm khi một số người, đặc biệt là số người Việt ở Mỹ, ngày nay đòi hỏi Việt Nam phải chấp nhận và thực hiện một nền dân chủ họ đang hưởng ở Mỹ. Quan niệm của tôi là, đó là một sự sai lầm. Nền dân chủ đó không thích hợp với Việt Nam trong tình thế hiện nay.”

KHÔNG HẬN THÙ NHƯNG TUYỆT ĐỐI CŨNG KHÔNG ĐƯỢC LÃNG QUÊN

Cách đây mấy hôm, mình nhận được dòng tin nhắn từ một bạn sống ở phố Văn Chương. Bà bạn ấy đã mất cách đây mấy tháng, bà là một nhân chứng sống từ sự kiện phố Khâm Thiên bị ném bom vào 26/12/1972. Ngày còn bé, thi thoảng bà còn dắt bạn ấy đi qua Tượng đài tưởng niệm Khâm Thiên và nói rằng: “Người ở bức tượng kia là bạn của bà. Bà ấy mất ở số nhà 47 khi trên tay vẫn còn bồng con”. Sau này, bà già yếu chỉ ở trong nhà, cứ mỗi ngày 26/12, bạn ấy vẫn thay bà đi thắp hương ở tượng đài. Năm nay bà không còn, thói quen ấy vẫn được duy trì. Bạn ấy nhắn rằng: “Bà em dặn là chiến tranh đau khổ lắm, các cháu có trưởng thành thì cũng đừng có quên hồi xưa đã khổ cực thế nào. Sau này có con, nhất định em cũng dẫn chúng đi để kể về bà và lịch sử”.


Những câu chuyện về Khâm Thiên là một phần kí ức của bạn ấy và rất nhiều người khác…
Những người học sinh đến nhà thầy giáo thu lượm xác của cả gia đình. Người chồng làm nhiệm vụ phòng không trở về nhà vội vã để nhặt những mảnh thân xác của vợ và các con… Thi thoảng, lật vỡ một mảng tường gạch lại thấy một mảnh xác người. Những đứa trẻ mới vài tuổi đầu phải nhìn cảnh thi thể của bố mẹ, ông bà… không toàn vẹn. Những thi thể được di chuyển đến Bạch Mai để nối lại và làm lễ an táng, có những xác người đặt trong những cái lồng lớn, số lồng nhiều đến mức lấp kín phòng và tràn ra bên ngoài…
Mùi tử khí quấy quanh Khâm Thiên cả tháng giời. Tết Nguyên Đán năm đó không có pháo, không đào mà chỉ toàn quấn khăn trắng, lưa thưa người qua lại và những tấm cáo phó treo vất vương…
Những người sinh ra và lớn lên ở Khâm Thiên và các con phố xung quanh hiểu lý do mà tại sao vào cùng một ngày mà sao lại có nhiều đám giỗ tập thể được diễn ra như vậy. Cứ đến những ngày cuối tháng 12, những con người trải qua những ngày tháng đau thương ấy lại dành một buổi để thắp hương tại Đài tưởng niệm hố bom 51 Khâm Thiên… Bà Chu Thị Kỳ, một người từng trải qua ký ức buồn nói rằng: “Nhiều khi tôi nghĩ, chiến tranh đã lùi xa, lịch sử của cuộc chiến đã khép lại rồi. Giờ chúng ta phải sống cho ngày hôm nay chứ không thể giữ mãi trong lòng nỗi hận thù.”
50 năm không phải là một thời gian ngắn, nhiều khi là cả một đời người với bao nhiêu thế hệ được sinh ra… Những thế hệ đã qua kể cho con cháu về những ngày cũ không phải để giữ mối hận trong lòng, vì suy cho cùng, không ai muốn thế hệ sau cứ phải sống trong uất ức, khốn khổ như thế hệ trước.
Nhưng, không giữ mối hận nhưng tuyệt đối cũng không thể quên. Như câu nói trong Mùi Cỏ Cháy: "...sau này cho con cháu chúng nó biết, chúng ta đã đi qua cuộc chiến này như thế nào nhá".
Tội ác thì có thể đã trôi qua lâu lắm, những người còn sống từ ký ức 26/12/1972 thưa vắng dần, nhưng đau thương trong lòng thì không bao giờ quên được.

 

7/12/22

UCRAINA DỠ BỎ TƯỢNG ĐÀI TÁC GIẢ "THÉP ĐÃ TÔI THẾ ĐẤY"

 Ngày 1/12 người đứng đầu ủy ban quân sự tỉnh Khmelnitsky,Ukraina, ông Sergei Gamaly đã đăng lên mạng xã hội Telegram hình ảnh và đoạn video,cho thấy tại thành phố Shepetovka của tỉnh Khmalnitsky, người ta đã tháo dỡ tượng đài nhà văn Nikolai Ostrovsky, tác giả tiểu thuyết "Thép đã tôi thế đấy" nổi tiếng.


Nikolai Ostrovsky (1904-1936) đã từng sống thời ấu thơ cho đến tuổi trưởng thành tại thành phố Shepetovka. Năm 1979, một bảo tàng văn học và tưởng niệm dành riêng cho ông đã được mở tại đây. Đến năm 2020, Bảo tàng này bị đổi tên thành Bảo tàng Tuyên truyền.
Công bố lần đầu vào năm 1932, đến năm 1991, "Thép đã tôi thế đấy" đã được xuất bản 773 lần bằng 75 thứ tiếng của các dân tộc Liên Xô với tổng số lượng phát hành là 53.854 nghìn bản. Cuốn tiểu thuyết nổi tiếng này cũng đã được dịch ra hàng chục thứ tiếng. Nhân vật Pavel Korchagin từng là thần tượng của lớp lớp tuổi trẻ của nhiều dân tộc quốc gia trong sự nghiệp đấu tranh chống kẻ thù.
Cũng trong ngày hôm qua, tại thành phố Izmail, tỉnh Odessa, tượng đài của nhà cầm quân vĩ đại Alexander Suvorov đã vị dỡ bỏ, Suvorov là vị tướng đã chỉ huy trận tấn công pháo đài Izmail bất khả xâm phạm của Thổ Nhĩ Kỳ vào năm 1790. Vậy đó !
Cuộc chiến với các di tích bắt đầu ở Ukraina vào năm 2015 với việc tháo dỡ các đài tưởng niệm, cũng như đổi tên các địa danh gắn liền với lịch sử Liên Xô và Nga. Trong tám năm, chính quyền nước này đã đổi tên hơn 900 khu định cư và khoảng 50 nghìn đường phố.
Qúa khứ? Không cần quá khứ. Vậy tương lai sẽ như thế nào đây?

30/11/22

ĐỨC THÁNH TRẦN LÀ ÁNH TRĂNG RẰM, QUAN VŨ CHỈ LÀ CON ĐOM ĐÓM. ĐỪNG SO SÁNH!

 Trong ít ngày qua tại nhiều diễn đàn lịch sử đã có những bài viết gây tranh cãi đến từ việc so sánh Quan Vũ với Trần Hưng Đạo. Những người này cho rằng Quan Vũ tài giỏi hơn Trần Hưng Đạo nên được thờ cúng nhiều hơn, người Việt thờ Quan Vũ nhiều hơn, coi trọng sức ảnh hưởng của Quan Vũ hơn. Xin gửi đôi lời:

Nhiều người Việt Nam vì mê tiểu thuyết Tam quốc diễn nghĩa của La Quán Trung, vốn chỉ 3 phần thực, bảy phần hư; trong đó tác giải luôn ưu ái nhà Thục Hán của Lưu Bị nên viết có phần ca ngợi một chiều. Quan Vũ theo đó mà được phong là "Thánh võ" của Trung Quốc, đặt ngang hàng với Khổng Phu Tử (Thánh văn). Quan Vũ chỉ là một võ tướng, vì kiêu căng tự phụ mà mất mạng ở Mạch Thành, mất luôn trong địa Kinh Châu năm 219, là nguyên nhân sâu xa khiến Thục Hán suy yếu và diệt vong vào năm 263. Luận về võ, Quan Vũ không bằng Lã Bố, cầm quân mưu trí thua xa nhiều vị tướng thời Tam Quốc như Từ Hoảng, Trương Liêu, Cam Ninh hay chính người anh em kết nghĩa vườn Đào là Trương Phi...
Cái duy nhất mà Quan Vũ có là tín, nghĩa. Thế nhưng so với Hưng Đạo Vương, bỏ thù nhà vì tổ quốc và 3 lần chiến thắng quân Nguyên Mông thì cái trung dũng của Quan Vũ chỉ như đom đóm so với ánh trăng rằm. Đức Thánh Trần là một trong những anh hùng cổ kim hiếm gặp. Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn làm Quốc công tiết chế, giữ ấn tín để chỉ đạo toàn bộ quân dân nhà Trần ba lần chiến thắng quân Nguyên Mông, đội quân được coi là thiên hạ vô địch thời kỳ đó vào các năm 1258, 1285, 1288. Vị nguyên soái của hào khí Đông A (chữ Đông và chữ A ghép lại thành chữ Trần trong Hán tự). Hưng Đạo Vương mỗi khi ra trận thường sử dụng trường kiếm hoặc trường côn được bịt sắt nhọn một đầu, uy vũ cái thế, bạt sơn lấp biển, khiến cho giặc Nguyên Mông sợ vỡ mật. Hưng Đạo Vương văn võ toàn tài, bày binh bố trận khiến quỷ khóc thần sầu, là tác giả của hai bộ binh thư kinh điển là Vạn Kiếp Bí truyền tông thư, Binh thư yếu lược. Quan Vũ một đời cầm quân đa số là thất trận, binh bại như núi đổ, ít học nên chỉ hữu dũng vô mưu.
Luận về trung nghĩa và tầm nhìn thì rõ ràng là Quan Vũ lại càng kém xa Đức Thánh Trần. Quan Vũ theo Lưu Bị nhưng ông ta có vết đen trong cuộc đời, khi thất trận ông ta đã đầu hàng Tào Tháo với lý do là để chăm sóc cho hai bà vợ của Lưu Bị. Sau đó vì Tào Tháo mà chém Nhan Lương, Văn Sú, giải vây Bạch Mã... được phong là Hán Thọ Đình Hầu. Điều này trong thời cổ đại là không phù hợp với tư tưởng trung quân, trung thần không bao giờ thờ hai chủ nhưng Quan Vũ từng thờ Tào Tháo. Lý do là để bảo vệ hai bà vợ Lưu Bị là không thuyết phục vì thời cổ đại trọng nam khinh nữ, ngay chính Lưu Bị cũng từng nói "anh em như tay chân, vợ con như áo quần". Tay chân gắn liền với cơ thể còn áo quần thì không có bộ này thì dễ dàng thay bộ khác.
An Sinh Vương Trần Liễu, cha Hưng Đạo Vương có mối thâm thù với Trần Thủ Độ khi Thủ Độ đem vợ của Trần Liễu gã cho em trai ông là Trần Cảnh (Trần Thái Tông). Trước khi qua đời, Trần Liễu dặn Hưng Đạo Vương là hãy ghi nhớ mối thù. Thế nhưng khi Nguyên Mông xâm lược nước ta, Hưng Đạo Vương bỏ thù nhà, lấy giang sơn xã tắc làm trọng, giữ ấn soái Quốc công Tiết chế để điều động toàn bộ quân dân nhà Trần để ba lần đánh bại quân Nguyên Mông. Con ông là Trần Quốc Tảng khuyên ông nên học Triệu Khuông Dẫn nhà Tống, là cuộc "binh biến Trần Kiều" để đoạt ngôi, ông định giết Quốc Tảng và dặn dò, khi ông qua đời thì đậy nắp quan tài rồi mới cho Quốc Tảng vào viếng. Trần Hưng Đạo cũng chủ động làm hoà với Trần Quang Khải, tắm cho người em họ để thu phục lòng người, tạo sự đoàn kết vì mục tiêu diệt quân xâm lược. Làm được như Hưng Đạo Vương thì chỉ thánh nhân mới có khả năng, tầm nhìn vĩ đại như thế.
Quan Vũ kiêu ngạo một đời, không xem ai ra gì ngoài Lưu Bị và Trương Phi. Tàn nhẫn với tướng sĩ dẫn đến việc My Phương, Phó Sĩ Nhân đầu hàng Đông Ngô. Cái kết là bị bắt sống ở Mạch Thành, bị Tôn Quyền trảm thủ. So với một số bộ tướng của Hưng Đạo Vương như Yết Kiêu, Dã Tượng...Quan Vũ chưa sánh kịp, đừng mang ông ta ra để so sánh với Đức Thánh Trần. Cái mà Hưng Đạo Vương thua Quan Vũ chính là khả năng tuyên truyền của hậu thế, Quan Vũ lên phim ảnh, sách báo nhiều và được hoành tráng hoá phục vụ ý đồ tuyên truyền cho tư tưởng trung quân, trung thành. Việt Nam nợ tiền nhân nói chung và Đức Thánh Trần nói riêng những tác phẩm, phim ảnh vag cách giáo dục lịch sử. Lĩnh vực này thì ta nên học Trung Quốc. Đừng mang Quân Vũ so sánh với Đức Thánh Trần. Đơn giản Quan Vũ chỉ là con đom đóm so với ánh trăng rằm Hưng Đạo Vương./.

7/11/22

ÁNH SÁNG CÁCH MẠNG THÁNG 10 NGA LUÔN SOI ĐƯỜNG CHO CÁCH MẠNG VIỆT NAM

 Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh nhiều lần khẳng định giá trị lịch sử to lớn, ý nghĩa thời đại của Cách mạng Tháng Mười Nga và lãnh tụ V.I.Lênin đối với thế giới nói chung, cho dân tộc Việt Nam nói riêng. Năm 1967, nhân kỷ niệm 50 năm Cách mạng Tháng Mười Nga, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã viết bài: “Cách mạng Tháng Mười vĩ đại mở ra con đường giải phóng cho các dân tộc” trên Báo Pravda (Sự thật) của Liên Xô.

Người tiếp tục khẳng định: “Giống như mặt trời chói lọi, Cách mạng Tháng Mười chiếu sáng khắp năm châu, thức tỉnh hàng triệu hàng triệu người bị áp bức, bóc lột trên trái đất. Trong lịch sử loài người chưa từng có cuộc cách mạng nào có ý nghĩa to lớn và sâu xa như thế”, đồng thời nhấn mạnh: “Cách mạng Tháng Mười mở ra con đường giải phóng cho các dân tộc và cả loài người, mở đầu một thời đại mới trong lịch sử, thời đại quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội trên toàn thế giới”.

Qua 105 năm, những nhận định về Cách mạng Tháng Mười Nga của Chủ tịch Hồ Chí Minh vẫn còn nguyên vẹn tính đúng đắn. Điều này cũng thể hiện giá trị vững bền của sự kiện Cách mạng Tháng Mười Nga đối với tiến trình vận động của thế giới.

Lãnh tụ Vladimir Ilyich Lenin phát biểu trước người dân tại Petrograd năm 1917. (Ảnh tư liệu).

 

Sự kiện lịch sử vĩ đại của thế kỷ XX

Sau cách mạng dân chủ Tư sản tháng Hai năm 1917, ở Nga tồn tại tình trạng hai chính quyền song song, một bên là Chính phủ lâm thời tư sản và một bên là Xô viết, các đại biểu công nhân và binh sĩ, đứng đầu là Xô viết Petrograt. Trước tình hình đó, V.I.Lênin và Đảng Bolshevik đã xác định cách mạng Nga là chuyển từ cách mạng dân chủ tư sản sang cách mạng xã hội chủ nghĩa. Tháng 4/1917, V.I.Lênin về nước để trực tiếp lãnh đạo cách mạng Nga. Đêm 24/10/1917 theo lịch cũ nước Nga (tức đêm 6/11/1917), khởi nghĩa vũ trang nổ ra ở Thủ đô Petrograt.

Ngày 25/10/1917, các lực lượng khởi nghĩa đã làm chủ tình hình ở Thủ đô Petrograt, trừ Cung điện Mùa Ðông và một vài nơi. Tới 2h10’ rạng sáng 26/10/1917, Cung điện Mùa Ðông được giải phóng, các bộ trưởng trong Chính phủ lâm thời bị bắt giữ. Cuộc khởi nghĩa vũ trang tại Petrograt kết thúc thắng lợi. Ngày 7/11/1917 đã được ghi vào lịch sử là ngày thắng lợi của Cách mạng xã hội chủ nghĩa Tháng Mười vĩ đại.

Cách mạng Tháng Mười Nga là một trong những sự kiện vĩ đại nhất của thế kỷ XX, đánh dấu một mốc mới trong lịch sử phát triển của nhân loại. Nó đã xóa bỏ các giai cấp bóc lột, tư sản, địa chủ và chế độ người bóc lột người, đưa giai cấp vô sản bị áp bức, bóc lột nặng nề thành giai cấp đứng đầu và làm chủ xã hội; giải phóng nhân dân lao động, đưa người lao động từ thân phận nô lệ trở thành chủ nhân của đất nước.

Cách mạng Tháng Mười Nga thành công đã dẫn tới sự ra đời nhà nước xã hội chủ nghĩa - Nhà nước chuyên chính vô sản đầu tiên trong lịch sử loài người và làm cho chủ nghĩa xã hội từ lý luận trở thành hiện thực trong đời sống chính trị thế giới. Đồng thời, mở ra một bước ngoặt căn bản trong lịch sử loài người, từ thế giới tư bản chủ nghĩa sang thế giới xã hội chủ nghĩa, mở ra một thời đại mới - thời đại quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội trên phạm vi toàn thế giới. Cách mạng Tháng Mười Nga đánh đổ chủ nghĩa đế quốc ở ngay “chính quốc”, đồng thời đánh vào hậu phương của nó là các nước thuộc địa của Nga Hoàng, mở ra thời kỳ vùng dậy không gì ngăn cản được của các dân tộc bị áp bức, giành độc lập, tự do, làm lay chuyển hậu phương rộng lớn của chủ nghĩa đế quốc thế giới.

Theo Phó Giáo sư, Tiến sĩ Nguyễn Viết Thảo, nguyên Phó Giám đốc Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, dưới ánh sáng của ngọn hải đăng Cách mạng Tháng Mười, quần chúng lao động và các lực lượng cách mạng khác đã xây dựng chế độ xã hội chủ nghĩa ở 15 quốc gia thuộc châu Âu, châu Á và cả ở châu Mỹ; cộng với nhiều quốc gia định hướng xã hội chủ nghĩa ở Á, Phi và Mỹ-La tinh.

“Cách mạng xã hội chủ nghĩa và chủ nghĩa xã hội đã thật sự là lực lượng mở ra và thực thi mục tiêu giải phóng và phát triển cho nhân loại trong những thập kỷ sôi sục đấu tranh giai cấp, đấu tranh dân tộc và đấu tranh xã hội. Chủ nghĩa tư bản đã buộc phải chung sống hòa bình với chủ nghĩa xã hội, chấp nhận chủ nghĩa xã hội là một trong những lực lượng mạnh mẽ quyết định xu hướng vận động của thế giới trong thế kỷ XX”, Phó Giáo sư, Tiến sĩ Nguyễn Viết Thảo nhận định.

Với dân tộc Việt Nam, đầu thế kỷ XX, các phong trào yêu nước cách mạng đều bị thất bại vì không có đường lối cứu nước đúng đắn. Giữa lúc đó, Lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh, sau gần 10 năm bôn ba tìm con đường cứu nước đã tiếp thu được ánh sáng của Cách mạng Tháng Mười. Tháng 7/1920, khi đọc Sơ thảo lần thứ nhất Luận cương về vấn đề dân tộc và vấn đề thuộc địa của V.I.Lênin, Nguyễn Ái Quốc sớm nắm bắt được cốt lõi trong tư tưởng của V.I.Lênin: “Vô sản tất cả các nước và các dân tộc bị áp bức đoàn kết lại”. Luận cương đã giải đáp cho Người về con đường giành độc lập dân tộc và tự do cho đồng bào Việt Nam mà Người đang kỳ công tìm kiếm. Từ đó, Nguyễn Ái Quốc đi đến nhận thức rõ ràng về con đường giải phóng dân tộc của Việt Nam. Người khẳng định rằng, muốn cứu nước và giải phóng dân tộc không có con đường nào khác con đường cách mạng vô sản. Đó là con đường gắn mục tiêu độc lập dân tộc với mục tiêu chủ nghĩa xã hội, gắn cách mạng Việt Nam với xu thế thời đại.

Ngay từ khi Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời (ngày 3/2/1930), Đảng đã khẳng định đường lối giương cao ngọn cờ độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, coi đó là sợi chỉ đỏ xuyên suốt quá trình cách mạng Việt Nam. Dưới ánh sáng soi đường của Cách mạng Tháng Mười Nga, với đường lối đúng đắn, Đảng Cộng sản Việt Nam đã lãnh đạo nhân dân ta tiến hành cuộc đấu tranh cách mạng lâu dài, gian khổ, vượt qua muôn vàn khó khăn, thử thách và giành được những thắng lợi vĩ đại: Thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám năm 1945, đập tan ách thống trị của thực dân, phong kiến, lập nên nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, đưa dân tộc ta tiến vào kỷ nguyên độc lập, tự do; thắng lợi của các cuộc kháng chiến chống xâm lược mà đỉnh cao là chiến thắng Điện Biên Phủ năm 1954, Đại thắng mùa Xuân năm 1975, giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước; từ đó xây dựng và phát triển đất nước ta ngày một đàng hoàng hơn, to đẹp hơn.

Từ những giá trị Cách mạng Tháng Mười Nga, tiếp tục đưa đất nước phát triển nhanh, bền vững

Kế thừa những giá trị trường tồn của Cách mạng Tháng Mười Nga, ngay từ khi bước vào giai đoạn xây dựng và phát triển đất nước, Đảng và Nhà nước ta luôn quán triệt tinh thần đổi mới trên nền tảng tư tưởng chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, vì độc lập dân tộc, vì chủ nghĩa xã hội. Đó vừa là tư tưởng, vừa là sự lựa chọn cách thức, bước đi phù hợp với điều kiện cụ thể của nước ta, dưới sự lãnh đạo của Đảng để từng bước hiện thực hóa con đường mà Chủ tịch Hồ Chí Minh đã lựa chọn con đường độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội.

Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011) khẳng định: “Đi lên chủ nghĩa xã hội là khát vọng của nhân dân ta, là sự lựa chọn đúng đắn của Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh, phù hợp với xu thế phát triển của lịch sử”. Hiến pháp năm 2013 tiếp tục khẳng định: “Đảng Cộng sản Việt Nam - Đội tiên phong của giai cấp công nhân, đồng thời là đội tiên phong của nhân dân lao động và của dân tộc Việt Nam, đại biểu trung thành lợi ích của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và của cả dân tộc, lấy chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, là lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội”.

92 năm qua, Đảng, Nhà nước và nhân dân ta đã giành được những thắng lợi to lớn mang tính bước ngoặt lịch sử; kiên định sự nghiệp đổi mới, mục tiêu độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội, tiếp tục con đường đi lên chủ nghĩa xã hội.

Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng nêu rõ: “Tư tưởng chỉ đạo xuyên suốt của toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta là phải kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội và coi đó là một vấn đề mang tính nguyên tắc, có ý nghĩa sống còn đối với chế độ ta, là nền tảng tư tưởng vững chắc của Đảng ta, không cho phép ai được ngả nghiêng, dao động”. Đó cũng chính là khẳng định phương hướng, khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc theo những giá trị thời đại khởi nguồn từ Cách mạng Tháng Mười Nga vĩ đại.

 Nguồn: Conganthanhhoa.gov.vn

NGƯỜI NƯỚC NGOÀI DUY NHẤT ĐƯỢC PHONG TẶNG DANH HIỆU NHÀ NƯỚC CAO QUÝ - MẸ VIỆT NAM ANH HÙNG!

 Mẹ Hiền là người Thái Lan tên gốc là Khăm Xóm Chèm Chăn, quê gốc tại một làng thuộc tỉnh Sakon Nakhon. Mẹ quen và lấy chồng là Tống Văn Hiền, một người Việt Nam làm việc ở Đông Bắc Thái Lan. Năm 1960, bà theo chồng về Việt Nam xây dựng quê hương theo lời kêu gọi của Bác Hồ… Người phụ nữ Thái Lan quyết định tạm biệt họ hàng, cha mẹ, anh chị em theo chồng…

Là người Thái Lan gốc, mẹ phải rất khó khăn mới học được tiếng Việt mà lại là tiếng Việt giọng Nghệ An - Hà Tĩnh. Năm 1963, người con đầu của mẹ Hiền là anh Tống Văn Hiếu, ban đầu mang quốc tịch Thái Lan, lên đường nhập ngũ. Chỉ 2 năm sau, anh hy sinh tại chiến trường miền Trung. Ngày nhận giấy báo t.ử của con trai, chồng bà đổ bệnh và mất đi sau đó… Có lời khuyên rằng, bà nên về Thái Lan cùng các con, sau khi chiến tranh kết thúc thì trở về thắp cho chồng con nén nhang. Nhưng bà từ chối, vì bà đã tự coi mình là người Việt Nam, bà động viên những người con tiếp theo ra trận. Năm 1973, người con thứ 3 là Tống Văn Xiên hy sinh tại Hạ Lào - rất gần quê hương Thái Lan của anh.
Tại một nơi xa lạ, chồng mất, những người con đều tham gia chiến đấu.. Bà tự tăng gia sản xuất lao động, học tiếng Việt Nam, đóng góp cho cách mạng.
Năm người con của mẹ đi bộ đội, hy sinh hai người, hai người là thương binh. Riêng cô con gái duy nhất Tống Thị Nang là trung tá quân đội về hưu, hiện đang sống ở Nha Trang.
“Sợ chiến tranh thật - mẹ Hiền nói, đôi mắt đẹp thẫn thờ nhìn lên bàn thờ nơi di ảnh hai con trai mẹ cười tươi rói, trong veo ở cái tuổi 21 - Khi mô ăn cơm dọn ra tôi cũng nhìn lên bàn thờ, khấn: Hai con xuống ăn cơm với mẹ...”.
Từ ngày theo chồng về Việt Nam, mẹ chỉ về lại cố hương được hai lần. Mẹ Hiền từng vừa lau nước mắt vừa nói: “Tôi không hối hận khi về Việt Nam. Ở đây tôi không thiếu bạn thiếu bầu. Mỗi lần ốm đau hàng xóm kéo đến thăm ầm ầm”.
Không phải là một người Việt Nam gốc, nhưng tình yêu đã khiến cho một người phụ nữ dành những gì tốt đẹp nhất cho Việt Nam!

27/9/22

MỘT ĐÁM TRẺ ĐANG XÚC PHẠM LỊCH SỬ HÀO HÙNG CỦA CHA ÔNG

 Chúng ta biết rằng, một số người trẻ Campuchia “thất học lịch sử” vẫn thường hướng mũi giáo chỉ trích về phía Việt Nam, rằng Việt Nam đã ngụy tạo ra Khmer Đỏ, xuyên tạc ra các bằng chứng diệt chủng để lấy cớ cho xâ.m lược Campuchia… Và có nhiều người trẻ Việt Nam, cũng thất học y như vậy và suy nghĩ y như thế…

Không có điều gì bức xúc hơn khi một đám trẻ được sinh ra và lớn lên trong thời bình lại nói nói rằng cuộc chiế.n tranh chính nghĩa của cha ông ngày trước là một “cuộc xâ.m lược”.
Đám trẻ ấy không biết rằng ngay từ những ngày đầu giải phóng, Khmer Đỏ đã đưa quân đổ bộ đến Thổ Chu bắt hơn 500 người dân ở đó rồi đưa sang các đảo ở Campuchia để tàn sát. Gần như không còn ai còn sống sót và tội ác này này được giữ kín đến tận mấy năm sau, khi quân tình nguyện Việt Nam và quân dân Campuchia giải phóng các đảo thì mới phát hiện nhờ vào những tấm căn cước vương vãi…

Đám trẻ thất học lịch sử chắc chắn không biết đến thảm sát Ba Chúc khiến hơn 3000 người thi.ệt mạng hay hàng chục những cuộc sát quy mô nhỏ hơn rải rác khắp vùng biên giới từ Hà Tiên cho đến Bù Đốp, Bình Phước và lên đến tận Tây Nguyên… Chúng không biết rằng Khmer Đỏ liên tục xâm phạm vào lãnh thổ Việt Nam từ năm 1975 đến 1978, bắt giữ người, của, phá hoại công trình nhà dân… Và điều đắng cay thay, có rất nhiều bằng chứng mà Việt Nam gửi lên quốc tế nhưng đều bị gạt đi, có nhiều lần Việt Nam đề nghị hòa giải cũng chẳng thành, bao nhiêu lần nhờ quốc tế trung gian cũng chẳng được…
Lịch sử những năm tháng ấy đầy những đớn đau, Việt Nam gần như bị cô lập trên trường quốc tế. Những quốc gia từng ủng hộ Việt Nam tại châu Phi, Nam Mỹ… cũng bị lôi kéo, gây sức ép, cắt giảm viện trợ nếu như không cùng tham gia lên án Việt Nam. Đám trẻ ấy có biết không? Bao nhiêu năm, các nhà ngoại giao và Việt Nam phải rơi nước mắt, nén nhịn vì luôn chịu tiếng “xâ.m lược”, có thời điểm nhiều phái đoàn ngoại giao Việt Nam phải ngồi một mình, không được bắt tay, bị xa lánh nghiêm trọng, đám trẻ ấy có biết không?
Hơn 44 năm sau, cuối cùng tòa án Liên Hợp Quốc đã trả lại danh dự cho Việt Nam, đưa ra ra những tuyên bố, cáo trạng ghi rõ rằng Khmer Đỏ đã tham gia thả.m sá.t, diệ.t chủ.ng người Việt Nam… Biên niên sử của Liên Hợp Quốc được ghi chép bởi tiến sĩ Benny Widyono không ghi Việt Nam xâ.m lược và nói rằng Việt Nam đã lật đổ chế độ Khmer Đỏ. Đám trẻ ấy có biết đọc không?
Đám trẻ ấy cho rằng Việt Nam ở lại Campuchia quá lâu như là muốn xâ.m lược Campuchia. Nhưng chính vì sự ngu dốt lịch sử, nên chúng không biết rằng quân đội Khmer Đỏ còn tồn tại tới những năm 1990 vì được “quốc” tế hỗ trợ rất nhiều. Trong khi chính quyền Campuchia còn non trẻ, làm sao có thể tồn tại trước sự trở lại của Khmer Đỏ? Bên cạnh đó, nhìn bạn hàng xóm điêu tàn, những người Việt Nam chân chính làm sao bỏ mặc được, nên ở lại để giúp bạn khôi phục kinh tế, thoát quan nạn đói, xây dựng lại hạ tầng… Đánh đuổi Khmer Đỏ thì là chuyện dễ dàng, nhưng để bảo vệ thành quả chiến thắng, ngăn chặn sự trở lại của thảm họa diệ.t chủng thì mới là khó. Người Việt Nam chắc là luôn muốn làm chuyện khó hơn…
Chính vì đám trẻ ấy không được học lịch sử một cách tử tế hoặc có được học nhưng chúng chẳng thèm quan tâm… Vì với chúng, niềm tự hào dân tộc, sự đúng đắn lịch sử, những chiến công của cha ông… đều chẳng bao giờ là có thực. Sự tự nhục dân tộc lẩn trong tâm trí của chúng và không chấp nhận bất cứ sự thực anh hùng của cha ông…
Xin mượn lời của một bạn có cha đã tham gia Chiến trường K để kết bài: “Khi tai tôi nghe thấy một người lớn lên trong hòa bình nói Việt Nam xâ.m lược Campuchia. Tôi chỉ muốn xông lên đá cho hắn một phát”.
Không có tương lai cho những kẻ lãng quên và xúc phạm lịch sử của chúng dân tộc mình.
Cre: tifosi

Trung sĩ Công an cứu người đuối nước, lan tỏa điều tốt đẹp trong cuộc sống

  Trung sĩ Công an cứu người đuối nước, lan tỏa điều tốt đẹp trong cuộc sống      Phát hiện 2 cháu bé đang chấp chới giữa dòng nước, không q...