8/2/22

CÔNG KÍCH, PHỈ BÁNG CẢ GIÁM MỤC CHỈ VÌ ĐƯA THÔNG TIN ''KHÁCH QUAN'' NHƯNG KHÔNG ZỪA LÒNG GIỚI RẬN CHỦ VÀ ĐÁM CON GIỜI

 Ngày 29/1, ngay thời điểm trước Tết nguyên đán, một sự việc đau lòng xảy ra tại xã Saloong, huyện Ngọc Hồi, Kon Tum. Linh mục Trần Ngọc Thanh trong khi làm lễ đã bị một người sát hại. Kẻ thủ ác là Nguyễn Văn Kiên nhanh chóng bị giáo dân bắt, giao nộp cho cơ quan công an. Lực lượng công an đã khởi tố đối tượng tội Giết người.



Tuy nhiên, ngay sau khi vụ việc xảy ra, nhiều đài phản động như đài RFA, Việt Tân, BBC,… và các đối tượng chống đối theo Công giáo như luật sư Lê Công Định, JB Nguyên Hữu Vinh, Thảo Teresa lại vu cáo có "bàn tay của chính quyền" sau vụ việc này. Trang Việt Tân trích nguồn tin từ "một người thân cận với Cha kể lại "hung thủ là một người bình thường, không bị điên, càng không ngáo đá, nói nó ngáo đá đó là tin tức bịa đặt, sai sự thật. Từ lúc hắn ta chia tay vợ, thì thường lui tới chơi với những công an viên xã". LS Lê Công Định thì lập lờ "có bàn tay lông lá" phía sau vụ việc. Rồi các dàn phụ họa bắt đầu đơm đặt, gắn vụ án với tình trạng "vi phạm tự do tôn giáo" ở các tỉnh Tây Nguyên. Hài nhất là Nguyễn Đình Thắng, siêu lừa kiêm giám đốc BPSOS lên đài RFA liên hệ vụ án với tình trạng "dư luận viên nhắm vào các vị lãnh đạo tôn giáo không phục tùng chính quyền có thể dẫn đến bạo lực"

Có thể thấy, từ một vụ linh mục chưa có tì vết chống phá chính quyền, không có lý do gì để vu vạ, ăn vạ chính quyền khi một kẻ lên cơn "ngáo đá" hoặc cũng có thể có lý do cá nhân phía sau giết hại một linh mục mà giới "dân chửi" đã được dịp lên đồng đơm đặt đủ chuyện, gán ghép, đổ lỗi chính quyền "vi phạm tự do tôn giáo". Bất cứ ai đều dễ dàng nhìn thấy trò hề lông lá của cái gọi là "truyền thông dân chửi" chia rẽ Công giáo với chính quyền nhân cái chết của vị linh mục này.

Sự việc Giám mục Aloisiô Nguyễn Hùng Vị, Giám mục Giáo phận Kontum đến viếng linh mục xấu xố v à thăm gia đình kẻ thủ ác để tìm hiểu nguyên nhân ban đầu, đưa ra thông tin khách quan trong Thư chung gửi giáo dân ngày 4/2, khẳng định đối tượng là một người Công giáo, có tiền sử bệnh tâm thần.




Giám mục Aloisiô Nguyễn Hùng Vị viết: “Anh Nguyễn Văn Kiên thuộc gia đình Công giáo. Cha mẹ anh hiền lành, ngoan đạo. Anh có hai em trai và một em gái. Em gái học nội trú nhà các soeurs. Tuy nhiên, bản thân anh Kiên thì lơ mơ, không sống đạo”. “Qua những thông tin có được từ cha mẹ anh Kiên, anh Kiên không phải là người điên, khùng theo cách hiểu thông thường. Anh vẫn biết làm ruộng, làm rẫy, sửa xe…Tuy nhiên, thỉnh thoảng, anh có thể nổi điên quậy phá, chửi bới, đập tivi, đánh đập ngay cả người nhà, thậm chí phá bàn thờ gia đình. Anh còn hoang tưởng bị người ta ức hiếp, ngăn cản không cho lấy vợ. Anh quát mắng mẹ anh khi bà phủ nhận lời anh nói như thế".



Hành động đúng mực trấn an giáo dân, bác bỏ thông tin xuyên tạc, bịa đặt của làng dân chửi của Giám mục dường như kích động tinh thần "chửi bới", thế là họ quay mũi giáo xúc phạm Giáo hội, tấn công Giám mục Giáo phận theo đúng tinh thần "kích động hận thù", kích động bạo lực.

Tất nhiên, phần lớn những kẻ đang tấn công Giáo hội và giám mục Kon Tum đều là tin đồ Công giáo, lâu này dựa vào những linh mục chống phá chính quyền để "thượng tôn" Công giáo, chia rẽ lương giáo, kích động bạo loạn.

VÀO XEM NGUYỄN VĂN ĐÀI TÔ HỒNG GIỚI ''DÂN CHỬI''

 Các kênh truyền thông của giới dân chửi không phải là báo chí khách quan, chúng là những kênh tuyên truyền chính trị ít nhiều mang tính thiên vị hoặc dối trá. Để thấy điều này, hãy đọc những bài viết tô hồng, tẩy trắng các hoạt động chống nhà nước Việt Nam. Thay vì mô tả một cách trung thực hiện trạng của làng dân chửi, và cảnh báo người đọc về những nguy cơ khi tham gia nó, những bài viết này chỉ vẽ ra một bức tranh tích cực không tì vết, đôi lúc bằng những thông tin sai. Bài viết mới đây của Nguyễn Văn Đài là một ví dụ.

Ở đầu bài, Đài đổ lỗi cho chế độ về “mọi sự bất công, thống khổ mà các thế hệ người Việt Nam phải chịu trong gần 80 năm qua”. Sau đó, Đài kêu gọi họ làm “cách mạng” để “xóa bỏ tầng lớp chóp bu độc tài cộng sản”. Phương pháp làm “cách mạng” là thành lập hội kín, nhóm kín, rồi liên kết với các đảng chống cộng ở nước ngoài. Đài cũng hứa hẹn rằng “cuộc cách mạng” của mình “là chính nghĩa”, và chắc chắn sẽ được quốc tế ủng hộ.



Cuộc lật đổ của Đài là chính nghĩa ư? Nếu bạn nghĩ vậy, hãy đọc bài dưới đây, do Đỗ Nam Trung viết sau phiên tòa xử Phạm Văn Trội. Trung và Trội đều tham gia tổ chức Hội Anh em Dân chủ do Đài sáng lập, trong đó Trội từng lãnh đạo tổ chức này.Trái ngược với những lời tô hồng của Nguyễn Văn Đài, Trung gọi Trội là kẻ “hèn nhát”, “cơ hội”, “lưu manh”, “bất tài nhưng háo danh”, “làm cách mạng bằng cách bán máu anh em”, thậm chí còn bòn rút công quỹ của tổ chức:



Và cuộc lật đổ đó có được “quốc tế” ủng hộ không? Trong suốt 2 năm vừa qua, các nước phương Tây đã không ngừng hâm nóng quan hệ với chính phủ Việt Nam, đồng thời tỏ thái độ lạnh nhạt với giới dân chửi người Việt. Mới đây, một nhóm đảng viên Việt Tân tại Úc còn phàn nàn rằng Ngoại trưởng Úc đang coi họ là “công dân hạng hai”, vì bà này không thèm hồi đáp họ sau khi họ biểu tình ròng rã 6 ngày. Thực tế là giới dân chửi rất thiếu chính nghĩa, lại đang bị nước ngoài bỏ rơi, chứ không hề hào nhoáng như Nguyễn Văn Đài quảng cáo.


GIỚI RẬN CHỦ VẬN ĐỘNG ĐỂ PHẠM THỊ ĐOAN TRANG ĐƯỢC ĐỀ CỬ GIẢI NOBEL HÒA BÌNH: RÙM BENG NHƯNG VÔ VỌNG

 Trước thềm năm mới Nhâm Dần, giới dân chửi ở hải ngoại đã ồn ào loan báo rằng họ đang “vận động đề cử Phạm Đoan Trang cho giải Nobel Hòa bình”. Họ không quên tuyên bố rằng có đến hơn 40 tổ chức của người Việt hải ngoại tham gia cuộc vận động. Tuy nhiên, trong danh sách các ứng viên được đề cử cho giải Nobel Hòa bình mà các nhà lập pháp Na Uy tiết lộ chỉ vài ngày sau đó, người ta không thấy cái tên Phạm Đoan Trang. Vì danh sách này tiên đoán rất đúng những người nhận giải trong khoảng thời gian từ năm 2014 đến nay (chỉ trừ năm 2019), nhiều khả năng Đoan Trang đã rớt ngay từ vòng loại. Đặc biệt, danh sách đề cử năm nay bao gồm cả một cỗ máy chiến tranh, là NATO. Nếu NATO được nhận giải Nobel Hòa bình trong năm 2022, theo cái cách người ta từng trao giải thưởng này cho Obama, thất bại của Đoan Trang hẳn sẽ có một vị mỉa mai chua chát.

Vì sao Đoan Trang khó lọt được vào danh sách đề cử cho giải Nobel Hòa bình đến vậy? Trước hết, vì giải thưởng này được định hướng bởi các nhu cầu chính trị của phương Tây. Như nhiều nhà quan sát nước ngoài đã nhận xét, phương Tây đang cần hâm nóng quan hệ với chính phủ Việt Nam, và họ sẵn sàng gác lại các khẩu hiệu về nhân quyền để làm điều này. Đoan Trang không được đề cử vì cô không phải là một quân cờ được phương Tây quá coi trọng.

Còn một lý do khác, là tác phong của Đoan Trang không hợp với giải thưởng này, như Phạm Lê Vương Các từng chỉ ra. Nếu người ta trao giải Nobel Hòa bình cho một thành phần cực đoan, chửi bậy luôn mồm, lại còn hay tranh quyền, tranh tiếng với các nhà dân chửi khác như Đoan Trang, thì chẳng khác gì bôi tro trát trấu vào giải thưởng:





Vậy vì sao giới dân chửi hải ngoại vẫn vận động cho Đoan Trang? Vì họ không cần những chiến dịch thành công, họ chỉ cần những chiến dịch rùm beng để giải ngân và lấy danh tiếng. Cứ nhìn cách họ biểu tình ở Úc để đòi thả Châu Văn Khảm mà xem. Bảy ngày biểu tình không đem lại tác dụng gì, cũng không được chính phủ Úc hồi âm, vậy mà họ đã kịp tâng người biểu tình lên thành “niềm hy vọng” cho đất nước.

NHÌN LẠI Ý NGHĨA LỊCH SỬ CỦA HIỆP ĐỊNH PARIS

 Cách đây đúng 49 năm, ngày 27/1/1973, Hiệp định Paris được ký kết tại Pháp nhằm chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam, được. Đây là kết quả của cuộc đấu tranh kiên cường, bất khuất của dân tộc ta trên khắp mọi miền Tổ quốc, đã tạo ra bước ngoặt quan trọng trong sự nghiệp kháng chiến chống Mỹ cứu nước của dân tộc Việt Nam.

        Với thắng lợi của Hiệp định Paris năm 1973 về chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam, Nhân dân Việt Nam đã thực hiện được mục tiêu “đánh cho Mỹ cút”, mở ra một giai đoạn mới, tạo điều kiện thuận lợi để thực hiện mục tiêu “đánh cho ngụy nhào”. Hội nghị Paris đã để lại nhiều bài học lớn, trong đó bài học về ý chí bảo vệ độc lập chủ quyền dân tộc và tinh thần đoàn kết quốc tế vẫn còn nguyên giá trị thời sự và thiết thực đối với các quốc gia trong một thế giới đầy biến động.       


          Từ sau Hiệp định Giơnevơ 1954, đế quốc Mỹ nhanh chóng nhảy vào miền Nam, thế chân thực dân Pháp, biến miền Nam Việt Nam thành thuộc địa kiểu mới. Do liên tiếp bị thất bại nặng nề ở cả hai miền Nam - Bắc Việt Nam, nhất là sau cuộc Tổng tiến công Tết Mậu Thân 1968, Mỹ buộc phải chấm dứt chiến tranh phá hoại miền Bắc, thực hiện hội nghị đàm phán với đại diện của Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hoà (ngày 13/5/1968). Hội nghị hai bên ở Pari sau nhiều phiên họp trong năm 1968 vẫn không giải quyết được vấn đề cơ bản, nhưng đã mở đầu cho một thời kỳ Việt Nam tiến công trực diện Mỹ về ngoại giao trên bàn hội nghị. Trong quá trình đấu tranh đó, phái đoàn Việt Nam luôn khẳng định tính chất chính nghĩa của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của nhân dân Việt Nam; lên án tội ác chiến tranh xâm lược của đế quốc Mỹ trên hai miền Nam, Bắc Việt Nam, hành động phá hoại hiệp định Giơnevơ của Mỹ; đòi Mỹ rút quân và chư hầu ra khỏi Việt Nam; chấm dứt hoàn toàn và không điều kiện việc ném bom miền Bắc Việt Nam; từ bỏ ngụy quân Sài Gòn; đáp ứng lập trường của Việt Nam Dân chủ cộng hoà và Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam. Trước quan điểm đúng đắn, thái độ kiên quyết của phái đoàn Việt Nam, cùng với những thất bại nặng nề trên chiến trường và tình hình nước Mỹ trước ngày bầu cử Tổng thống, ngày 1/11/1968, Giônxơn tuyên bố ngừng ném bom bắn phá và mọi hành động chiến tranh khác chống Việt Nam Dân chủ cộng hoà. Sau sự kiện này, cuộc đấu tranh giữa Việt Nam và Mỹ bắt đầu xoay quanh vấn đề hình thức, thành phần hội nghị và đã đi đến thống nhất tổ chức Hội nghị bốn bên bao gồm: Việt Nam Dân chủ cộng hoà, Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam (sau đó là Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hoà miền Nam Việt Nam), Hiệp chúng quốc Hoa Kỳ, Việt Nam Cộng hòa.

        Tháng 1/1969, Hội nghị 4 bên về Việt Nam chính thức họp phiên đầu tiên tại Paris. Lập trường bốn bên, mà thực chất là của hai bên, Việt Nam và Mỹ, giai đoạn đầu rất xa nhau, mâu thuẫn nhau, khiến cho các cuộc đấu tranh diễn ra gay gắt trên bàn hội nghị, đến mức nhiều lúc phải gián đoạn thương lượng. Trong thời gian này, trên chiến trường cả hai bên Việt Nam và Mỹ đều tìm mọi cách giành thắng lợi quyết định về quân sự để thay đổi cục diện chiến trường, lấy đó làm áp lực cho mọi giải pháp chấm dứt chiến tranh trên thế mạnh mà cả hai phía đang giành giật trên bàn đàm phán nhưng chưa đạt kết quả. Những thắng lợi quân sự của ta trong các chiến dịch Đường 9 - Nam Lào, Đông Bắc và Đông Nam Campuchia trong năm 1971; các chiến dịch tiến công Trị - Thiên, Bắc Tây Nguyên, Đông Nam Bộ, Bắc Bình Định, Khu 8 Nam Bộ… trong năm 1972 đã làm quân Mỹ - nguỵ bị thiệt hại nặng nề, từng bước làm phá sản chiến lược “Việt Nam hoá chiến tranh” và tạo thế thuận lợi cho ta trên bàn đàm phán.

        Ngày 8/10/1972, phái đoàn Việt Nam đưa cho Mỹ bản dự thảo “Hiệp định về chấm dứt chiến tranh lập lại hoà bình ở Việt Nam” và đề nghị thảo luận để đi đến ký kết. Lúc đầu, bản dự thảo được các bên nhất trí nhưng đến ngày 22/10/1972 phía Mỹ lật lọng viện dẫn chính quyền Nguyễn Văn Thiệu đòi sửa đổi bản dự thảo. Đêm 18/12/1972, tổng thống Mỹ Nixon ra lệnh ném bom huỷ diệt Hà Nội và Hải Phòng bằng B52. Cuộc đụng đầu lịch sử trong 12 ngày đêm kết thúc bằng việc 38 pháo đài bay B52 và 43 máy bay chiến đấu khác của Mỹ bị bắn rơi ngay trên bầu trời Hà Nội. Chúng ta đã đập tan cuộc tập kích bằng máy bay chiến lược B52 của không lực Hoa Kỳ, làm nên trận "Điện Biên Phủ trên không". Thất bại của Mỹ trên chiến trường miền Nam cùng với thất bại của không quân chiến lược Mỹ trên bầu trời Hà Nội, buộc chúng phải nối lại đàm phán tại Pari. Trên tư thế bên chiến thắng, phái đoàn ta tại cuộc đàm phán đã kiên quyết đấu tranh giữ vững nội dung của dự thảo Hiệp định đã thoả thuận.

        Như vậy, trong khoảng 5 năm, Hiệp định Paris đã trải qua 201 phiên họp công khai, 45 cuộc họp riêng cấp cao, 500 cuộc họp báo, 1.000 cuộc phỏng vấn và đã có hàng nghìn cuộc mít tinh chống chiến tranh, ủng hộ Việt Nam. Trong các phiên họp chung công khai cũng như các cuộc tiếp xúc riêng, phía Việt Nam không bỏ qua bất cứ vấn đề quan trọng nào có liên quan đến cuộc chiến tranh ở Đông Dương, nhưng tập trung mũi nhọn đấu tranh vào hai vấn đề mấu chốt nhất là đòi rút hết quân Mỹ và quân 5 nước thân Mỹ ở khu vực châu Á - Thái Bình Dương khỏi miền Nam, đòi họ tôn trọng các quyền dân tộc cơ bản và quyền tự quyết của nhân dân miền Nam Việt Nam. Phía Mỹ trước sau vẫn nêu quan điểm “có đi có lại”, đòi hai bên (cả quân đội miền Bắc có tại miền Nam) “cùng rút quân” và từ chối ký dự thảo Hiệp định do phía Việt Nam đưa ra (tháng 10/1972) để rồi mở cuộc tập kích bằng máy bay chiến lược B52 vào Hà Nội - Hải Phòng trong 12 ngày đêm cuối năm 1972 với ý đồ buộc phía Việt Nam ký vào dự thảo Hiệp định do chúng đưa ra. Nhưng Mỹ đã thất bại. Thất bại của Mỹ trên chiến trường đã quyết định thất bại của chúng trên bàn đàm phán, thương lượng.

        Ngày 27/11/973, Hiệp định chấm dứt chiến tranh, lập lại hoà bình ở Việt Nam đã được ký chính thức giữa Bộ trưởng Ngoại giao các bên. Từ Hiệp định Paris, quân xâm lược Mỹ đã phải cuốn cờ rút khỏi Việt Nam (diễn ra chính thức vào ngày 28/3/1973), tạo thế xoay chuyển có lợi cho cách mạng Việt Nam, từng bước dẫn đến ngày toàn thắng 30/4/1975, giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước.

        Hiệp định Paris về Việt Nam là kết quả của cuộc đấu tranh kiên cường bất khuất của Nhân dân ta ở cả hai miền đất nước, đã tạo ra bước ngoặt mới trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước của dân tộc. Cội nguồn của thắng lợi Hội nghị Paris là tinh thần quyết chiến quyết thắng, là ý chí quật cường đấu tranh bền bỉ bảo vệ cho chân lý, giành độc lập tự do của cả dân tộc Việt Nam. Cuộc đấu tranh này phản ánh đầy đủ sự lãnh đạo tài tình của Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh, trí tuệ của nền ngoại giao cách mạng Việt Nam, dựa vào chính nghĩa của cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc. Hội nghị Paris và Hiệp định Paris mãi mãi đi vào trong lịch sử cách mạng Việt Nam nói chung và ngoại giao Việt Nam trong thời đại Hồ Chí Minh nói riêng như một dấu son không bao giờ phai mờ./.

NHỮNG KẺ LẠC LOÀI CỦA DÂN TỘC

  Chiến thắng của đội tuyển Việt Nam trước tuyển Trung Quốc chiều mồng một tết, có thể nói là một chiến thắng lịch sử. Chỉ sau ít phút, bài đăng của AFC Asian Cup đã nhận hơn 10.000 lượt thích (like) cùng hơn 1.600 bình luận (comment). Không chỉ ở đây mà trên rất nhiều diễn đàn khác, rất nhiều CĐV châu Á đã gửi những lời chúc mừng chiến thắng cũng như chúc Tết đến HLV Park Hang Seo cùng các cầu thủ.

        Trong khi hàng chục triệu người dân nước Việt từ già đến trẻ đang hân hoan trước chiến thắng này thì có một bộ phận người Việt lạc loài lại đang tự nhục trước chiến thắng và chúng có những lời lẽ khiếm nhã xuyên tạc với đủ mọi lý do.


        Kẻ lưu vong đầu tiên cần chỉ mặt đó là Phạm Minh Vũ, tên vong nô này lấy hình ảnh Thủ tướng ăn mừng đội tuyển để châm biếm rằng "Thủ tướng không nên ăn mừng kiểu trẻ con như thế, đất nước còn bao việc phải làm…".

        Còn con tinh trùng khuyết tật của dòng họ Nguyễn Lân danh giá Nguyễn Lân Thắng lại có một kiểu tự nhục khác với cái mõm nhọn bằng giọng mỉa mai, thường thấy khi Y khuyên Thủ tướng "không nên vui mừng quá mức kẻo Trung Quốc nó cấm biên, cấm thanh long dưa hấu Việt nam xuất khẩu sang Trung Quốc lại làm khổ người nông dân. Chưa hết y còn xuyên tạc cho rằng thắng một trận thì lục súc tranh công".

        Có thể nói, Phạm Minh Vũ và Nguyễn Lân Thắng cùng một số kẻ lạc loài khác chúng đang bơi ngược với dòng chảy của dân tộc chúng có các đặc điểm chung đó là đều bày tỏ thái độ hậm hực, tự nhục trước bất cứ chiến thắng nào của Việt nam nói chung và thể thao trong đó có bóng đá nói riêng, bởi, những chiến thắng đó thể hiện lòng tự tôn và tinh thần dân tộc của người Việt.

        Rõ ràng, Phạm Minh Vũ và Nguyễn Lân Thắng cùng mộ số kẻ lạc loài khác..... chúng không bao giờ đồng hành cùng đất nước, hành vi của chúng chẳng khác gì chó sủa trăng và muôn đời chúng chỉ là những kẻ lạc loài giữa lòng dân tộc mà thôi./.

VIỆT NAM - ĐẤT NƯỚC TỰ HÀO

        Việt Nam một đất nước tuyệt vời có những cánh rừng bát ngát, đồi núi trập trùng, đồng lúa rộng cánh cò bay, có đủ cả núi non biển sâu, những con sông uốn lượn xẻ dọc từng mảnh đất để chu cấp cho ta phù sa và tôm cá.

        Đất nước ta đẹp thế mà có người không thích nó, không yêu nó, nỡ lòng nào mà dũ bỏ nó, tàn phá nó, nỡ lòng nào bỏ nó mà ra đi. Nếu như tất cả chúng ta bỏ nó mà đi, để nó cô quạnh, để nó bị người ta lấn chiếm và khai thác nó. Chúng ta đau, tổ tiên chúng ta cũng đau chứ!

        Đất nước nào mà không trải qua những thăng trầm của lịch sử? Chỉ học qua sách vở về lịch sử nước nhà, chúng ta đã thấy tổ tiên chúng ta gìn giữ đất nước này với biết bao công sức, kể cả máu và xương. Lịch sử cận đại cũng đủ cho chúng ta thấy điều đó.


        Các thế lực ngoại bang muốn chúng ta nghèo, muốn chúng ta làm nô lệ, muốn chúng ta là những kẻ tôi tớ để họ sai khiến. Những kẻ muốn chúng ta như thế đương nhiên là những kẻ vừa giàu vừa mạnh. Đâu phải chúng ta muốn nghèo, họ làm cho chúng ta kiệt quệ như vậy đấy chứ? Nếu chúng ta không vùng lên để làm chủ giang san thì chúng ta vẫn còn nghèo, vẫn là kẻ tôi tớ. Vâng, cuộc Cách mạng Dân chủ Nhân dân ra đời chính là nhằm mục đích đó.

        Người Việt Nam chúng ta hiểu điều đó, sẵn sàng hy sinh để đạt được điều đó. Một khi đã đạt được rồi thì chúng ta gắn bó với nó, chăm chút cho nó ngày càng giàu mạnh, ngày càng đẹp hơn. Bạn có ngôi nhà riêng để bạn chăm chút thì chúng ta có ngôi nhà chung, chúng ta mỗi người một tay chăm chút nó.

        Chân lý thật đơn giản như vậy mà vẫn còn có người không hiểu. Nhiều người quên mất những năm tháng cả đất nước kiệt quệ, nghèo đói hiển hiện khắp nơi, thiên nhiên bị chất độc và bom đạn cầy xới, tàn phá. Trong hoàn cảnh nghèo đó ấy chúng ta đứng lên, rũ bùn mà đứng lên, xây dựng lại ngôi nhà chung của chúng ta.

        Chỉ bằng sức lực của chúng ta, chúng ta đã dựng nên biết bao công trình – nào đào hầm xuyên núi cho việc đi lại thuận tiện hơn; nào việc cắm sâu những mũi khoan xuống đáy biển để dò tìm mạch dầu mà khai thác; nào những cây cầu dài cầu ngắn bắc qua sông cái sông con; nào lúa chất đầy kho, đang từ một nước thiếu ăn trở thành nước đứng đầu về xuất khẩu gạo, mà lại là loại gạo ngon nhất thế giới nữa chứ! Rồi mấy ngày hôm nay, hàng ngàn xe chở trái cây, hải sản chờ đợi để đưa vào một thị trường với hàng tỷ dân, mới chỉ một vụ, chúng ta đã thu về trên một tỷ USD từ thị trường này.

        Ngày xưa làm gì có cảnh này? Đúng không? Nhiều người quên mất rằng để được như vậy chính là từ công sức của mỗi chúng ta chứ có người ngoài nào vào đây làm thay chúng ta? Công sức của chính chúng ta bỏ ra thế mà lại quên, lại oán lại trách!

        Còn thể chế chính trị hiện nay, nó hình thành để phục vụ cho ai? Nó đâu có phục vụ cho những nhà tài phiệt, cho nhân dân đó chứ! Nếu không có thể chế chính trị này thì tài nguyên trên rừng, trong lòng đất, dưới đáy biển khơi đã nằm trong tay các nhà tư sản mại bản, như những nước có thể chế được gọi là “dân chủ” mà thực chất dân đầu có được làm chủ? Tất cả tài nguyên quốc gia chỉ nằm trong tay một số người.

        Ấy thế mà người ta ca ngợi mãi cái thứ dân chủ ấy. Không lẽ dân chủ nghĩa là chia hết tài nguyên quốc gia cho trăm triệu dân để mỗi người làm chủ một ít, tự ý khai thác theo sở thích?

        Một thể chế ra đời dám thách thức cả một hệ thống luôn rình rập để chống lại, để phá hoại, để làm cho nó sụp đổ. Nhưng dù vậy nó vẫn đứng vững và phát triển, và người ta đã định ra mục tiêu trong hai mươi năm nữa đất nước ta sẽ trở thành một quốc gia giàu có. Một quốc gia mà làm được như vậy là vĩ đại chứ, là đáng tự hào chứ?

        Cũng buồn lòng vì trong một gia đình có những đứa con hư. Chúng nghe theo sự lôi kéo của các tổ chức chống đối ở nước ngoài, nhận những đồng tiền nhơ bẩn, vâng lời chúng về phá hoại gia trang, làm băng hoại truyền thống của dân tộc.

        Cái gì làm nên sự giàu có đó? Là chúng ta, người sẽ chăm chút và giữ gìn ngôi nhà chung với sự giúp đỡ vô tư của bạn bè. Là chúng ta có tấm lòng yêu quý nó, sẵn sàng đứng ra vun đắp nó, bảo vệ nó. Nếu ai không có ý thức và tấm lòng như vậy đều là những kẻ vô ơn, không đáng để người đời tôn trọng.

        Tôi tự hào về quê hương tôi, vì dân tộc tôi, vì chính quyền chúng tôi có!

CHÚA TOÀN NĂNG CŨNG KHÔNG CỨU ĐƯỢC CON CHIÊN LẠI ĐỔ TRÁCH NHIỆM CHO CHÍNH QUYỀN?

 Sự việc linh mục Giuse Trần Ngọc Thanh bị Chính giáo dân của mình giết chết bằng hai nhát dao oan nghiệt, vụ việc chưa được điều tra làm rõ thì phía dư luận giáo dân khắp các trang mạng Công giáo đã bóng gió đổ vạ cho chính quyền Việt Nam bằng nhiều lý do rất trơ trẽn và lố bịch đến nực cười, họ nói bàn tay “kẻ nào” ám chỉ chính quyền đứng sau vụ việc này, rồi đổ vạ cho chính quyền không đảm bảo được an ninh…

        Trên thực tế, kẻ giết người là Nguyễn Văn Kiên, sinh 1989, trú tại thôn Giang Lố 2, xã Saloong, huyện Ngọc Hồi, Kon Tum. Người này cũng đã bị Công an tỉnh KonTum bắt, khởi tố với tội danh “Giết người”. Đáng chú ý, đối tượng này lại một giáo dân công giáo và thường cùng vợ đi lễ, đọc kinh tại Nhà thờ thuộc xã Saloong.


        Động cơ dẫn đến việc sát hại linh mục Trần Ngọc Thanh đang được điều tra làm rõ. Dù chưa có kết luận cuối cùng từ cơ quan chức năng, nhưng với những gì bạn đọc mạng cung cấp, thì có thể nhận định nguyên nhân sự việc xuất phát từ sự thù tức cá nhân giữa Linh mục Giuse Trần Ngọc Thanh với Nguyễn Văn Kiên.

        Cái gì tốt đẹp thì  người ta tạ ơn Chúa với những lời khen có cánh, nhưng, khi có chuyện thị phi thì họ lại đỗ lỗi cho chính quyền, vậy thử hỏi? Chúa toàn năng ở đâu và đã làm gì khi các con của Chúa gặp nạn, cứ tưởng Chúa toàn năng cứu giúp đước cả nhân loại, tại sao? Đến con chiên của mình mà Chúa cũng không cứu được liệu đó có phải trò khôi hài và nực cười hay không? Chúa toàn năng nhưng cũng phải nhờ tới chính quyền điều tra giúp xem chuyện gì xảy ra?

        Bài viết không có ý báng bổ, kỳ thị tôn giáo nhưng một sự thật cần phải nhìn nhận cho đúng. Nguyên nhân và trách nhiệm của vụ việc trên thuộc về ai thì chắc hẳn mọi người đều rõ. Đừng có cái gì cũng đổ lỗi cho chính quyền còn cái gì tốt đều là do Chúa cứu vớt, chở che…

Trung sĩ Công an cứu người đuối nước, lan tỏa điều tốt đẹp trong cuộc sống

  Trung sĩ Công an cứu người đuối nước, lan tỏa điều tốt đẹp trong cuộc sống      Phát hiện 2 cháu bé đang chấp chới giữa dòng nước, không q...