29/5/20

Truyền thông Việt Nam đứng đầu danh sách uy tín phản ánh về Covid-19

Hãng nghiên cứu quốc tế YouGov đã xếp Việt Nam đứng đầu danh sách uy tín truyền thông trên thế giới trong hoạt động phản ánh dịch Covid-19.
Tạp chí Forbes nổi tiếng thế giới hôm 20/5/2020 đăng bài phản ánh việc truyền thông Việt Nam được xếp hạng số 1 về độ tín nhiệm trên bảng xếp hạng toàn cầu liên quan đến đại dịch Covid-19 do virus SARS-CoV-2 gây ra.
 
Forbes dẫn lại cuộc khảo sát của tổ chức nghiên cứu quốc tế YouGov (có trụ sở ở London, Anh) cho thấy niềm tin vào những gì mà truyền thông Việt Nam phản ánh về đại dịch Covid-19 là cao nhất trong các nước được khảo sát. Forbes viết: Dù giáp với Trung Quốc (nơi Covid-19 khởi phát), Việt Nam đã xoay sở để chặn đứng dịch bệnh Covid-19 tương đối sớm. Các chuyên gia ca ngợi chiến lược của Việt Nam đã mang lại kết quả là nước này mới chỉ có 320 ca mắc bệnh Covid-19 và chưa ghi nhận cả tử vong nào do bệnh này, tính đến ngày 20/5.
Theo Forbes, hãng YouGov nhận thấy có tới 90% người Việt Nam được hỏi (trong khoảng thời gian từ 5-13/5/2020) là tin tưởng vào cách đưa tin về Covid-19 ở nước họ.
Theo số liệu của YouGoV, truyền thông Việt Nam đứng đầu về độ tín nhiệm từ công chúng, với tỷ lệ tín nhiệm là 89%, theo sau là Ấn Độ (67%), Trung Quốc (62%), Australia (55%), và Đức (54%). Việt Nam còn xếp cao hơn hàng loạt nước phương Tây khác như Tây Ban Nha (50%), Mỹ (42%), Italy (38%), Anh (31%), và Pháp (26%).
Bình phẩm về thông tin Việt Nam cùng với Ấn Độ, Trung Quốc đứng đầu danh sách về độ tín nhiệm, tin tưởng của công chúng liên quan đến dịch bệnh CoVid-19 này, một số facebooker Việt chế giễu: Thế này khác nào truyền thông "bị kiểm duyệt" của cộng sản Việt Nam và 2 nước châu Á có số dân lớn nhất thế giới cũng dẫn đầu, minh bạch và được tin tưởng hơn truyền thông "tự do thông tin, khách quan, trung thực" của Âu Mỹ là sao?
Kể từ khi Việt Nam phát hiện ca bệnh từ Vũ Hán, Trung Quốc, giới truyền thông zân chủ, truyền thông tiếng Việt nước ngoài liên tục tung tin hoài nghi về tình hình dịch bệnh của Việt Nam, đặt điều Việt Nam che giấu dịch bệnh để giữ uy tín cho chính quyền và chế độ. Đến khi dịch bệnh lan khắp Mỹ, Âu và thế giới, họ vẫn liên tục bày tỏ không tin tưởng vào số liệu liên quan đến dịch bệnh do báo chí và Bộ Y tế công bố bằng lập luận đến MỸ, Âu còn “toang” thì Việt Nam sao kiểm soát nổi dịch bệnh, rồi hù dọa dân chúng tự cứu lấy mình, kêu gọi dân chúng rút tiền, vàng khỏi ngân hàng để mặc kinh tế sụp đổ, lúc đó cơ hội thay đổi chế độ chính trị sẽ “từ trên trời rơi xuống”!!!
Nhưng hết các đại sứ, cơ quan theo dõi, giám sát dịch bệnh WHO đến CDC của Hoa Kỳ và truyền thông phương Tây đều bày tỏ tín nhiệm và tin tưởng vào số liệu liên quan dịch bệnh của Việt Nam. Đến nay hãng nghiên cứu và truyền thông Mỹ lại xếp hạng uy tín truyền thông các nước liên quan đến dịch bệnh như thế này, không hiểu giới zân chủ, nhân sỹ trí thức chống cộng sẽ “phản biện” bằng cách nào?

KHỦNG BỐ VIỆT TÂN NGÀY CÀNG THẢM HẠI TRONG CÁI GỌI LÀ CHIẾN DỊCH THÁNG TƯ ĐEN

Như mọi năm, cứ đến dịp 30/4 là Việt tân và các hội nhóm “chống cộng” ở hải ngoại cùng đám zân chủ trong nước lại trình diễn màn kịch “tháng Tư đen”, xem như là cơ hội để “tưởng niệm” chế độ và những tướng tá ngụy đã “hy sinh vì cuộc chiến bảo vệ tự do” và tố cáo “tội ác của cộng sản với dân tộc” cùng với các hoạt động biểu tình trước cơ quan ngoại giao Việt Nam ở nước ngoài, diễu hành trên phố để nhắc nhở kiều bào, cộng đồng “đừng lãng quên họ”, đồng thời quan trọng nhất là cơ hội quyên góp tiền để duy trì, nuôi dưỡng “tinh thần chống cộng” của họ.
Thảm cho họ, năm nay, do tác động của dịch bệnh CoVid-19 ở tại chính “thủ phủ chổng cộng”, thêm vào đó là các quốc gia họ ở, truyền thông và hầu hết các cơ chế quốc tế đều đang “say mê” ca ngợi thành quả chống dịch bệnh của “Việt cộng”, khiến cho chiến dịch “tháng tư đen” của họ chưa năm nào thê thảm như năm nay.





Việt tân là một trong số tổ chức hô hào rầm rộ nhất, phát động hẳn chiến dịch tổng lực tuyên truyền và biểu tình “45 năm tháng tư đen” với Ban Tổ chức rất quy mô, bài bản. Tính riêng ở Mỹ, Việt tân cứ ra Ban Tổ chức bao gồm “Việt Tân Bắc Mỹ”, “Hệ thống truyền thông Tiếng Nước Tôi”, và “Hội Dân chủ cho Việt Nam” do Đặng Vũ Chấn (Ủy viên Trung ương Đảng Việt Tân) trực tiếp điều hành. Tuy nhiên, gần 1 tháng trời tuyên truyền, không thấy bất kỳ dấu hiệu tích cực, có hy vọng thành công nào cho hoạt động biểu dương, biểu tình hay quyên góp tiền. Cuối  tháng 04/2020, Ban Tổ chức thông báo chuyển sự kiện thành “tưởng niệm và tâm tình trên mạng xã hội” với lý do để tránh dịch CoVid-19.


Thêm nữa, bi đát nhất là năm nay, ngoài Trương Văn Dũng có đưa ảnh hưởng ứng chiến dịch của Việt tân, vài cô ả zân chủ chuyên nghiệp như Võ Hồng Ly, Lê Mỹ Hạnh, Huỳnh Thục Vy có thêm vài câu ca tụng cờ vàng 3 sọc ra thì tiệt nhiên đám đệ tử vốn ăn theo Việt Tân lâu nay đều im hơi lặng tiếng, tảng lờ chiến dịch này.
                                                            
Bình luận về sự kiện này, blogger Nguyễn Biên Cương đánh giá, Việt Tân cố duy trì cộng đồng của họ ở hải ngoại bằng cách nhắc lại một cảm xúc chung là hận thù, càng chứng tỏ điểm yếu thiếu khả năng thu hút người Việt trong và ngoài nước trong hoạt động tuyên truyền và xây dựng cộng đồng của họ. Một cộng đồng hình thành và duy trì nhờ hận thù có thể đem lại một tương lai hòa bình, tự do cho đất nước không? Bằng chiến dịch “45 năm tháng tư đen”, Việt Tân đã tự khẳng định rằng họ là một tổ chức mà người dân Việt Nam, cả trong nước lẫn hải ngoại, không muốn tin tưởng.

Mỹ - Trung kịch chiến có phải vì CoVid-19?

Gần đây, hàng loạt bài báo trên truyền thông Việt Nam chủ yếu dịch nguyên văn, bê nguyên ý từ truyền thông phương Tây về đều "phản ánh" và "nhân định" rằng, Trung Quốc lợi dụng CoVid-19 để chiếm Biển Đông, Mỹ và các nước đồng minh tẩy chay, cô lập, thương chiến với Trung Quốc vì phẫn nộ với v iệc Trung Quốc là thủ phạm gây ra đại dịch CoVid-19. Cùng trong bối cảnh đó, Biển Đông trở thành điểm nóng quân sự khi Trung Quốc tập trận, kéo dàn vũ khí tập kết trên các đảo chiếm đóng, tuyên bố lập các khu hành chính, đặt tên các thực thế trên biển, ra lệnh cấm đánh bắt cá, ... Còn Mỹ cũng rầm rập đổ tàu chiến, máy bay cùng đòn võ miệng  nhằm vào Trung Quốc trên Biển Đông.
Bộ Quốc phòng thông tin và bảo vệ chủ quyền ở Biển Đông
Nhìn xuyên suốt sự việc, bản chất của cuộc chiến giữa Mỹ-phương Tây với Trung Quốc mà vội kết luận vì CoVid-19 thì thật đơn giản và hồ đồ. Nên nhớ, Mỹ - Trung là 2 cường quốc số 1 và số 2 thế giới. Trước sự lớn mạnh về tiềm lực kinh tế, quốc phòng mạnh mẽ từ TQ, lấn át và vượt qua cả EU và các đối thủ "tiềm năng" khác, Mỹ và Châu Âu mấy năm gần đây đã thực sự "bừng tỉnh", nguy cơ Trung Quốc sẽ hất cẳng nốt Mỹ là đã vươn lên chiếm mất vị thế số 1 của Mỹ. Người Trung Quốc thì muốn họ vươn lên số một thế giới, đương nhiên chấp nhận cuộc chiến một mất một còn với Mỹ và đồng minh. Hai con hổ dữ sẽ không thể chung một cánh rừng, con nào cũng muốn triệt hạ đối thủ để làm chúa sơn lâm. Covid-19 chỉ là cơ hội, chỉ là giọt nước tràn ly mà thôi. Nói cách khác, CoVid-19 là cơ hội để Trung Quốc thực hiện dã tâm nuốt trọn Biển Đông, thậm chí còn muốn thống nhất luôn Đài Loan bằng vũ lực, còn CoVid-19 lại là cái cớ để Mỹ huy động lực lượng "tổng phản công" đè bẹp "dã tâm" soán ngôi vương của Mỹ và đang dự định xây dựng "bộ tứ kim cương" làm vành đai các quốc gia "thịnh vượng" siết chặt vòng vây quanh Trung Quốc. Biển Đông trở thành "điểm trấn" Mỹ buộc phải giữ lấy nhằm nhốt con hổ Trung Quốc khỏi "xổng chuồng", vượt ra khỏi tầm kiểm soát của Mỹ.
Nói thế để thấy đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ của Việt Nam là hoàn toàn đúng đắn. Nếu chiến tranh giữa hai phe Mỹ - Trung xảy ra thì Việt Nam ta chẳng theo phe này để chống phe kia, chúng ta vừa quan hệ với Mỹ, vừa quan hệ với Trung Quốc. Lúc đó thì cả Mỹ và Trung Quốc đều cần những nước độc lập như chúng ta để thực hiện tham vọng của họ. Suy cho cùng thì lợi ích quốc gia là mãi mãi, nước nào cũng vì lợi ích của đất nước họ. Đừng mơ hão Mỹ đánh Trung Quốc cho Việt Nam, đó chỉ là suy nghĩ của những kẻ ảo tưởng. chỉ muốn ngồi thụ hưởng, muốn làm nô lệ cho Mỹ để hưởng thụ như thời chính  quyền ngụy VNCH mà thôi.
Bộ Quốc phòng mới đây đã nêu rõ lập trường hành xử Việt Nam trước xung đột trên Biển Đông.Về chủ trương bảo vệ chủ quyền biển, đảo của chúng ta là: Kiên quyết, kiên trì bảo vệ chủ quyền lãnh thổ quốc gia vùng đặc quyền kinh tế 200 hải lý, giữ vững 21 đảo (33 điểm đóng quân) ở quần đảo Trường SaDKI với phương án kết hợp chặt chẽ đấu tranh chính trị, đấu tranh ngoại giao và pháp lý với chuẩn bị phương án quân sự, kiên quyết bảo vệ chủ quyền biển, đảo. 
Giữ môi trường hòa bình, ổn định, giữ quan hệ hữu nghị hợp tác với các nước để phát triển đất nước; xử trí tình huống trên cơ sở Công ước của Liên hiệp quốc về Luật Biển 1982, Luật Biển Việt Nam năm 2012 và Tuyên bố về ứng xử của các bên ở Biển Đông (DOC).  Giữ vững đường lối độc lập, tự chủ và tranh thủ sự ủng hộ của cộng đồng quốc tế....
Trên "chiến trường", Bộ Quốc phòng thường xuyên chỉ đạo các lực lượng hải quân, không quân, cảnh sát biển, biên phòng…tăng công tác nắm tình hình trên các vùng biển, tổ chức lực lượng kịp thời xử lý các tình huống xảy ra không để bị động, bất ngờ. Bộ Quốc phòng cũng đã tăng cường lực lượng tàu trực tại các vùng biển trọng điểm, thường xuyên tổ chức tuần tra, kiểm soát kịp thời phát hiện, ngăn chặn các hành động xâm phạm chủ quyền biển, đảo của các nước, sẵn sàng các phương án xử trí không để bị bất ngờ. Rà soát, điều chỉnh, bổ sung các kế hoạch bảo vệ chủ quyền biển, đảo; tổ chức diễn tập, luyện tập các phương án, hiệp đồng các lực lượng trong đấu tranh bảo vệ chủ quyền biển, đảo để xử lý tốt các tình huống diễn ra trên biển. Đẩy mạnh công tác đối ngoại quốc phòng với các nước trên thế giới, phối hợp với lực lượng hải quân, cảnh sát biển các nước trong khu vực, tổ chức tuần tra chung trên biển, duy trì an ninh, trật tự trên vùng biển giáp ranh, nhằm tăng cường hiểu biết, tin cậy lẫn nhau để giải quyết những vấn đề xảy ra trên biển....
Bằng quyết sách, quyết tâm nêu trên, quân đội VN đã có chủ trương, sách lược, biện pháp rõ ràng đối phó với diễn biến có thể xảy ra trẻn Biển Đông, hoàn toàn không có "hèn nhát", "bán nước" cho Trung Quốc như các thế lực thù địch, phản động kích bác, vu cáo, công kích.

Nhận diện hoạt động của số còn lại trong “Tổ đồng thuận”

Ngày 23/5/2020 dư luận xã hội lại thấy Nguyễn Văn Thắng (xóm 6, thôn Hoành, xã Đồng Tâm) tự xưng là cháu ngoại Lê Đình Kình đến Dương Nội gặp gỡ Nguyễn Thị Miền, Nguyễn Thị Tâm nhận tiền hỗ trợ. Đây là hoạt động công khai móc lối của thân nhân số đối tượng bị bắt ngày 01/9/2020 tại Đồng Tâm với số đối tượng chống đối chính trị bên ngoài theo sự chỉ đạo của một số người cầm đầu, quá khích còn lại trong “Tổ đồng thuận”. Vậy những người đó là ai? họ đang tiến hành các hoạt động chống đối như thế nào tại Đồng Tâm?

Đó là Hạ Thuân, Bùi Quốc Huy những tay chân tích cực của Lê Đình Kình trước đây nhưng hiện nay vẫn đang làm xóm trưởng xóm 6, 7. Bùi Văn Vệ, Nguyễn Văn Thiệu, Lê Thanh Doãn, Bùi Văn Nhạc (xóm 8), Nguyễn Thị Lan (xóm 8), Lê Thị Hằng (xóm 4), Lê Đình Mỳ... là những thành viên tích cực còn lại trong “Tổ đồng thuận”. Dư luận gần đây có thể nhầm tưởng số này đã “từ bỏ” những hoạt động gây mất an ninh trật tự sau khi Lê Đình Kình cùng một số đối tượng cầm đầu, quá khích tại Đồng Tâm bị lực lượng chức năng tiêu diệt bắt giữ về hành vi vi phạm pháp luật. Nhưng người dân Đồng Tâm ai cũng biết, việc những người này không đến nhà Lê Đình Kình, không tham gia cùng thân nhân Lê Đình Kình đón tiếp, nhận tiền hỗ trợ từ số đối tượng chính trị; hay thể hiện thái độ “nhận biết sai lầm” trong buổi xét kỷ luật đảng của chi bộ thôn Hoành ngày 6/5/2020... chỉ là cách những người này “ẩn mình”, tạo “vỏ bọc” để tránh sự chú ý của dư luận, che đậy những hoạt động kích động gây mất an ninh trật tự tại địa phương mà những người này đang âm thầm chỉ đạo thời gian gần đây.
Trên facebook của những kẻ chống đối chính trị như Phạm Chí Thành, Nguyễn Tường Thụy, Nguyễn Thúy Hạnh, Nguyễn Lân Thắng, Nguyễn Thị Tâm, Trịnh Bá Phương, Cấn Thị Thêu, Đặng Bích Phượng... thường xuất hiện hình ảnh Dư Thị Thành (vợ Lê Đình Kình) với khuôn mặt khắc khổ, khóc lóc thảm thương chia sẻ những bài viết xuyên tạc, cáo chính quyền. Hay việc gần đây Dư Thị Thành cùng với cháu dâu Nguyễn Thị Duyên (vợ Lê Đình Uy) đăng tải đơn kêu cứu, tố cáo lực lượng công an... đều do những người còn trong “Tổ đồng thuận” cấu kết với các đối tượng chống đối chính trị đứng sau chỉ đạo, hướng dẫn. Chính những người này đang từng bước xúi giục, kích động, tạo dựng Dư Thị Thành (vợ Lê Đình Kình), Nguyễn Văn Thắng (xóm 6, con trai Bùi Thị Nối), Bùi Thị Minh (xóm 6, co, Nguyễn Quyết Thắng (xóm 8, bố Nguyễn Quốc Tiến) để công khai hoạt động chống đối chính quyền như những gì mà Lê Đình Kình cùng “Tổ đồng thuận” đã làm trước đây tại Đồng Tâm.
Người dân xã Đồng Tâm đang mong muốn các cơ quan chức năng sớm xử lý đối với những đối tượng đang lợi dụng vụ việc Đồng Tâm để xuyên tạc, kích động gây mất an ninh trật tự tại địa phương. Những hoạt động đứng sau xúi giục, lôi kéo của một số người cầm đầu, quá khích còn lại trong “Tổ đồng thuận” đang bị dư luận, người dân xã Đồng Tâm tẩy chay, lên án mạnh mẽ.

8/5/20

CHỦ TỊCH HỒ CHÍ MINH TRONG TRÁI TIM NHÂN LOẠI

Nửa thế kỷ đã trôi qua kể từ ngày Chủ tịch Hồ Chí Minh từ biệt thế giới này để trở về với cõi vĩnh hằng, nhưng Người còn sống mãi trong trái tim nhân loại, sống mãi với dân tộc Việt Nam và bạn bè quốc tế…    

Điếu văn của Ban Chấp hành Trung ương Đảng Lao động Việt Nam (nay là Đảng Cộng sản Việt Nam) do đồng chí Lê Duẩn, Bí thư thứ nhất đọc tại lễ truy điệu trọng thể Chủ tịch Hồ Chí Minh ngày 9/9/1969 tại Quảng trường Ba Đình, có đoạn: “Hồ Chủ tịch kính yêu của chúng ta không còn nữa! Tổn thất này vô cùng lớn lao! Đau thương này thật là vô hạn! Dân tộc ta và Đảng ta mất một vị lãnh tụ thiên tài và một người thầy vĩ đại. Phong trào cộng sản quốc tế, phong trào giải phóng dân tộc và cả loài người tiến bộ mất một chiến sĩ lỗi lạc, một người bạn chiến đấu kiên cường và thân thiết. Đồng bào và chiến sĩ cả nước ta thương nhớ Người khôn xiết! Anh em và bầu bạn khắp năm châu cùng chia sẻ nỗi đau buồn sâu sắc của chúng ta... Dân tộc ta, nhân dân ta, non sông đất nước ta đã sinh ra Hồ Chủ tịch, người Anh hùng dân tộc vĩ đại và chính Người đã làm rạng rỡ dân tộc ta, nhân dân ta, non sông đất nước ta".
Trong quá trình tìm đường cứu nước, Nguyễn Tất Thành - Nguyễn Ái Quốc đã rút ra chân lý: "Dù màu da có khác nhau, trên đời này chỉ có hai giống người: giống người bóc lột và giống người bị bóc lột. Mà cũng chỉ có một mối tình hữu ái là thật mà thôi: tình hữu ái vô sản".
Chủ tịch Hồ Chí Minh là người đặt nền móng và suốt đời vun đắp cho tình đoàn kết quốc tế giữa nhân dân Việt Nam với bè bạn năm châu. Hoạt động không mệt mỏi của Người cho sự đoàn kết và hiểu biết giữa các dân tộc đã có hiệu quả thiết thực. Từ rất sớm, Người đã được coi như một biểu tượng cao đẹp của đoàn kết quốc tế.
Trên tạp chí Ngọn lửa nhỏ, số 39, nhà văn, nhà báo Liên Xô Ô xít Manđenxtam, trong bài Thăm một chiến sĩ Cộng sản quốc tế - Nguyễn Ái Quốc đã nhận xét: “Từ gương mặt Nguyễn Ái Quốc toát lên sự lịch thiệp và tế nhị, từ Nguyễn Ái Quốc đã tỏa ra một thứ văn hóa. Không phải văn hóa châu Âu, mà có lẽ là một nền văn hóa tương lai... Qua phong thái thanh cao và trong giọng nói trầm ấm của Nguyễn Ái Quốcchúng ta như nghe thấy ngày mai, như thấy sự yên tĩnh mênh mông của tình hữu ái toàn thế giới.
Sau Cách mạng tháng Tám năm 1945, sau khi long trọng tuyên bố trước quốc dân đồng bào và bạn bè quốc tế sự ra đời của nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa - nhà nước dân chủ nhân dân đầu tiên ở Đông Nam Á, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã sớm công bố chính sách đối ngoại nhất quán của nhà nước Việt Nam: “ làm bạn với tất cả mọi nước dân chủ và không gây thù oán với ai...
Cảm phục cống hiến vĩ đại của Hồ Chí Minh cho dân tộc, nhân loại, và tấm gương đạo đức cao đẹp của Người, nhân dân ta và bạn bè trên thế giới đã dùng những lời tốt đẹp nhất để ca ngợi Người. D.Orvill, Phó Tổng giám đốc UNESCO nói: “Câu nói nổi tiếng của Hồ Chí Minh Không có gì quý hơn độc lập tự do có giá trị toàn cầu”. Còn theo Thủ tướng Ấn Độ Nehru, “Xét theo bất cứ tiêu chuẩn nào, Người cũng là nhân vật nổi bật nhất trong thời đại chúng ta”.
Năm nay, nhân dân Việt Nam kỷ niệm 50 năm thực hiện Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Di chúc là văn kiện cuối cùng khép lại cuộc đời hoạt động oanh liệt của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Cùng với Bản yêu sách 8 điểm gửi Hội nghị Versaills năm 1919 đòi quyền tự quyết cho dân tộc Việt Nam, Di chúc đã đề cập vấn đề lớn nhất của ngày hôm nay: Quyền con người, quyền mưu cầu hạnh phúc và cuộc đấu tranh bảo vệ quyền sống, quyền Độc lập - Tự do - Hạnh phúc của mỗi con người.
Những điều đó là lý tưởng mà Hồ Chí Minh suốt đời theo đuổi. Đây cũng thể hiện Hồ Chí Minh là một tâm hồn lớn, một nhà văn hóa lớn không những của dân tộc Việt Nam mà là của toàn nhân loại.
Đồng cảm với nhân dân Việt Nam, Chủ tịch Ủy ban Hòa bình Nhật Bản M. Haxeegaoa đã đánh giá: "Những lời dạy trong Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh cần phải được thực hiện ở bất cứ nơi nào trên quả đất”. 

                 
Niki ta Khơ rút xốp, nguyên Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Liên Xô trong hồi kí của mình đã coi Hồ Chí Minh là “vị Thánh cách mạng, vị thánh của Chủ nghĩa cộng sản”. Ông giải thích: “Trong cuộc đời hoạt động chính trị của mình, tôi đã biết rất nhiều người, nhưng không có người nào gây được ở tôi một ấn tượng đặc biệt như Hồ Chí Minh. Không ai có thể chống lại nổi ông vì niềm tin của ông mãnh liệt, tin ở nhân dân mình và tất cả các dân tộc cũng như ở sự nghiệp cao cả”.
Nhà nghiên cứu, nhà văn Helene Tourmaire trong cuốn sách Trở thành người Bác như thế nào? xuất bản tại Berlin, Đức, đánh giá: “Hồ Chí Minh là hình ảnh sự khôn ngoan của Đức Phật, lòng nhân từ của Chúa, tinh thần nhiệt tình cách mạng của Lênin, sự ung dung của một người chủ dân tộc. Tất cả được kết hợp hài hòa trong một dáng dấp tự nhiên.
Một đoàn đại biểu đến từ Úc vào thăm nơi ở và làm việc của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong Khu di tích Phủ Chủ tịch năm 1974, đã ghi vào Sổ cảm tưởng những dòng rất sâu sắc: “Rất ít người đã hoặc sẽ làm được như Người, nhưng ai cũng có thể học được ở Người... để làm người cách mạng và người dân tốt hơn”.
Năm 1987, UNESCO đã tôn vinh Chủ tịch Hồ Chí Minh là Anh hùng giải phóng dân tộc, danh nhân văn hóa kiệt xuất và khuyến nghị các nước thành viên tổ chức kỷ niệm Người trên toàn thế giới vào năm 1990, nhân kỷ niệm 100 năm ngày sinh của Người.
50 năm - nửa thế kỷ đã trôi qua kể từ ngày Hồ Chí Minh từ biệt thế giới này để trở về với cõi vĩnh hằng, nhưng Người còn sống mãi trong trái tim nhân loại, sống mãi với dân tộc Việt Nam và bạn bè quốc tế, bởi vì cuộc đời hoạt động và sự nghiệp vĩ đại của Người là tấm gương cao đẹp tỏa sáng chủ nghĩa nhân văn, kết tinh những tư tưởng, tình cảm, những ước mơ lớn của nhân loại.
Ðúng như lời phát biểu của Chủ tịch Hội đồng Hòa bình thế giới Romet Chandra: "Bất cứ nơi nào chiến đấu cho độc lập, tự do, ở đó có Hồ Chí Minh và ngọn cờ Hồ Chí Minh bay cao. Bất cứ ở đâu chiến đấu cho hòa bình và công lý, ở đó có Hồ Chí Minh và ngọn cờ Hồ Chí Minh bay cao. Ở bất cứ đâu, nhân dân chiến đấu cho một thế giới mới, chống đói nghèo, ở đó có Hồ Chí Minh và ngọn cờ Hồ Chí Minh bay cao".

ĐẠI LỄ PHẬT ĐẢN ĐƯỢC TỔ CHỨC TRỌNG THỂ, AN TOÀN TRONG BỐI CẢNH DỊCH COVID -19, PHÁT HUY TINH THẦN:"ĐẠO PHÁP, DÂN TỘC, XÃ HỘI CHỦ NGHĨA" ĐỒNG HÀNH CÙNG DÂN TỘC

Sáng 7/5 (tức Rằm tháng Tư âm lịch), Giáo hội Phật giáo Việt Nam trọng thể tổ chức Đại lễ Phật đản Phật lịch 2564 – dương lịch 2020. Trong bối cảnh đại dịch COVID-19 đang hoành hành trên thế giới và ở trong nước mặc dù dịch bệnh cơ bản được kiểm soát nhưng luôn tiềm ẩn nguy cơ tái phát, thực hiện Chỉ thị 19 của Thủ tướng Chính phủ và Thông tư số 076/TT-HĐTS của Hội đồng Trị sự, Giáo hội Phật giáo Việt Nam không tổ chức lễ đài tập trung đông người. Đại lễ được truyền hình trực tiếp trên kênh Truyền hình An Viên, VTVCab, phát trực tuyến trên mạng xã hội để đồng bào phật tử cả nước đều được đón nhận không khí kính mừng ngày Đức Phật đản sinh.

Dự Đại lễ có Phó Chủ tịch Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc (MTTQ) Việt Nam Ngô Sách Thực; Hòa thượng Thích Thanh Dũng, Phó Pháp chủ kiêm Chánh Thư ký Hội đồng Chứng minh; Hòa thượng Thích Thanh Nhiễu, Phó Chủ tịch Thường trực Hội đồng Trị sự, các chức sắc Giáo hội Phật giáo Việt Nam, lãnh đạo Ban Tôn giáo Chính phủ, đại diện Bộ Công an, thành phố Hà Nội...

Tại Đại lễ, các tăng, ni và đại biểu đã nghe Hòa thượng Thích Thanh Nhiễu, Phó Chủ tịch Thường trực Hội đồng Trị sự, tuyên đọc Thông điệp Phật đản Phật lịch 2564 – dương lịch 2020 của Đức Pháp chủ Giáo hội Phật giáo Việt Nam. Thông điệp nhắc nhở “mỗi quốc gia, mỗi công dân của một đất nước đều phải trở về với hành động chính niệm trong sự tỉnh thức, nhìn nhận về văn hóa sinh hoạt, về ý thức đồng thuận trong xã hội”.

Trong Thông điệp, Đức Pháp chủ biểu dương chư tôn đức tăng, ni, các chùa và cơ sở tự viện, đồng bào phật tử đã tin tưởng, đồng thuận thực hiện lời kêu gọi của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước; chỉ thị của Thủ tướng Chính phủ; chấp hành tốt các quy định, hướng dẫn chuyên môn của Bộ Y tế; thể hiện tinh thần “tương thân, tương ái”, tham gia đóng góp ủng hộ công tác phòng, chống dịch COVID-19. Đặc biệt, tăng, ni đã có nhiều thời khóa tụng kinh cầu bình an hàng ngày để mang năng lượng thiện lành, niềm tin vững chắc chung tay đẩy lùi dịch bệnh tiêu tan, sớm ổn định cuộc sống bình an.

Các đại biểu dự Đại lễ cũng nghe Phó Chủ tịch Ủy ban Trung ương MTTQ Việt Nam Ngô Sách Thực đọc Thư chúc mừng Phật đản của Chủ tịch Ủy ban Trung ương MTTQ Việt Nam. Qua thư, Chủ tịch Ủy ban Trung ương MTTQ Việt Nam ghi nhận, biểu dương những đóng góp to lớn của Giáo hội Phật giáo Việt Nam và đồng bào phật tử trong, ngoài nước đã có nhiều hành động, nghĩa cử cao đẹp; vừa chấp hành tốt các quy định của Nhà nước về phòng, chống dịch, vừa tham gia ủng hộ vật chất và tinh thần; chung sức, đồng lòng cùng với Đảng, Nhà nước và các tầng lớp nhân dân cơ bản đẩy lùi được dịch COVID-19.

Chủ tịch Ủy ban Trung ương MTTQ Việt Nam mong muốn Giáo hội Phật giáo Việt Nam, chư tôn đức giáo phẩm và toàn thể tăng, ni, đồng bào phật tử tiếp tục phát huy hơn nữa sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân tộc với tinh thần “hộ quốc, an dân” và lòng từ bi, cứu khổ, độ sinh của Phật giáo để cùng nhân dân cả nước vượt qua khó khăn, chiến thắng dịch COVID-19, phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh, nâng cao vị thế của đất nước.

Phát biểu chúc mừng Phật đản, Trưởng ban Tôn giáo Chính phủ Vũ Chiến Thắng khẳng định, từ khi hiện diện ở Việt Nam, Phật giáo luôn lấy đức từ, bi, hỷ, xả để giáo hóa chúng sinh, lấy trí tuệ làm sự nghiệp và chủ trương “Phật pháp bất ly thế gian pháp” để hành đạo. Vì vậy, Phật giáo Việt Nam luôn thể hiện tinh thần “hộ quốc an dân”, gắn bó, đồng hành cùng dân tộc. Trải qua gần 40 năm thành lập, Giáo hội Phật giáo Việt Nam đã không ngừng được củng cố, phát triển lớn mạnh về mọi mặt, thực hiện hòa hợp, đoàn kết, thống nhất, luôn phát huy tinh thần gắn bó đồng hành cùng dân tộc, động viên tăng, ni, phật tử cùng toàn dân thực hiện nghiêm chính sách, pháp luật của Nhà nước, thực hiện trách nhiệm và nghĩa vụ công dân, đoàn kết giữa các tôn giáo, xây dựng Giáo hội vững mạnh, góp phần xây dựng đất nước phát triển bền vững, vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, công bằng, dân chủ, văn minh.

“Lễ Phật đản năm nay diễn ra trong bối cảnh đại dịch COVID-19 lan rộng trên toàn thế giới, nhiều hoạt động, trong đó có hoạt động tôn giáo bị đình trệ. Tuy nhiên, trong khó khăn mới thấy được tinh thần đoàn kết của dân tộc Việt Nam, sự chung sức, chung lòng của các giai tầng trong xã hội, của các tôn giáo, trong đó có Phật giáo”, Trưởng ban Tôn giáo Chính phủ nói.

Trưởng ban Tôn giáo Chính phủ Vũ Chiến Thắng đánh giá cao những hoạt động thiết thực mà Giáo hội Phật giáo Việt Nam đã chủ động, tích cực chung tay cùng chính quyền các cấp trong công tác phòng, chống dịch bệnh; mong muốn chư vị tôn đức giáo phẩm Hội đồng Chứng minh, Hội đồng Trị sự sẽ gương mẫu tiếp tục chỉ dẫn, động viên tăng, ni, phật tử cùng thực hiện nghiêm các chỉ thị của Đảng, Nhà nước, các văn bản hướng dẫn của cơ quan chuyên môn, thiết lập trạng thái bình thường mới, có cách thức sinh hoạt tôn giáo phù hợp với tình hình thực tế, đảm bảo an toàn cho chư tăng, ni và đồng bào phật tử, góp phần đẩy lùi hoàn toàn dịch bệnh, bảo vệ sức khỏe cộng đồng. Phát huy truyền thống yêu nước, tinh thần “hộ quốc an dân” và trí tuệ Phật giáo,  Giáo hội Phật giáo Việt Nam tiếp tục hạnh nguyện nhập thế, lấy việc phục vụ nhân sinh, ích đạo, lợi đời làm phương tiện để tu hành, tiếp tục khẳng định những giá trị ưu việt của một tôn giáo hòa bình, xứng đáng với sự tin yêu, gửi gắm của tăng, ni, phật tử trong và ngoài nước.

Tại Đại lễ, các tăng, ni, đại biểu đã dành một phút tưởng nhớ công lao to lớn của Chủ tịch Hồ Chí Minh, các Anh hùng liệt sỹ, đồng bào tử nạn và thực hiện nghi thức dâng hương, tắm Phật truyền thống./.

Không hề có chuyện Công hàm của Thủ tướng Phạm Văn Đồng "dâng" biển đảo cho Trung Quốc!

Trong công hàm gửi Liên Hợp Quốc ngày 17/4, Trung Quốc dẫn Công thư năm 1958, cho rằng "Chính phủ Việt Nam công nhận và ủng hộ tuyên bố của chính phủ Trung Quốc về lãnh hải mà Trung Quốc đưa ra ngày 4/9/1958". Theo đó, Trung Quốc đòi có "lãnh hải 12 hải lý, áp dụng cho tất cả lãnh thổ của Trung Quốc, gồm có Đông Sa, Tây Sa, Nam Sa và Trung Sa và các đảo khác thuộc Trung Quốc". Ngay lập tức, các đối tượng phản động, chống đối ở trong nước đã đưa thông tin trên, cho rằng “chính phủ cộng sản bán biển đảo cho Trung Quốc” từ năm 1958, bôi nhọ uy tín của Thủ tướng Phạm Văn Đồng. 
Bức Công hàm của cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng
Nhìn nhận lại bức Công hàm và bối cảnh tình hình, chúng ta có thể thấy rõ sự xuyên tạc của Trung Quốc cũng như đám phản động ở trong nước. Trước hết, việc Trung Quốc diễn giải nội dung Công hàm ngày 14/9/1958 của Thủ tướng Phạm Văn Đồng như là một chứng cứ cho thấy Việt Nam đã công nhận chủ quyền của Trung Quốc đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa là hết sức phiến diện và xuyên tạc nội dung, ý nghĩa của bản Công hàm đó, hoàn toàn xa lạ với nền tảng pháp lý của Việt Nam cũng như luật pháp quốc tế, bất chấp thực tế khách quan của bối cảnh lịch sử đương thời. Cụ thể, về nội dung bức công hàm, ngày 14/9/1958, Thủ tướng Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (VNDCCH) Phạm Văn Đồng gửi Công hàm cho Thủ tướng Chu Ân Lai, nguyên văn như sau:"Thưa Đồng chí Tổng lý, Chúng tôi xin trân trọng báo tin để Đồng chí Tổng lý rõ: Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ghi nhận và tán thành bản tuyên bố ngày 4 tháng 9 năm 1958 của Chính phủ nước Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa quyết định về hải phận của Trung Quốc. Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tôn trọng quyết định ấy và sẽ chỉ thị cho các cơ quan Nhà nước có trách nhiệm triệt để tôn trọng hải phận 12 hải lý của Trung Quốc trong mọi quan hệ với nước Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa trên mặt biển. Chúng tôi xin kính gửi Đồng chí Tổng lý lời chào rất trân trọng”.

Công hàm 1958 có hai nội dung rất rõ ràng:

Một là, Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ghi nhận và tán thành việc Trung Quốc mở rộng lãnh hải ra 12 hải lý;

Hai là, Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa chỉ thị cho các cơ quan nhà nước tôn trọng giới hạn lãnh hải 12 hải lý mà Trung Quốc tuyên bố.

Trong Công hàm của Thủ tướng Phạm Văn Đồng không có từ nào, câu nào đề cập đến vấn đề lãnh thổ và chủ quyền, càng không nêu tên bất kỳ quần đảo nào như Trung Quốc đã nêu.

Do vậy, chỉ xét về câu chữ trong một văn bản có tính chất ngoại giao cũng dễ dàng nhận thấy mọi suy diễn cho rằng Công hàm 1958 đã tuyên bố từ bỏ chủ quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa và coi đó là bằng chứng khẳng định Việt Nam đã thừa nhận chủ quyền của Trung Quốc đối với hai quần đảo này là xuyên tạc lịch sử và hoàn toàn không có cơ sở pháp lý.

Bởi, hơn ai hết, chính Thủ tướng Việt Nam Dân chủ Cộng hòa thấu hiểu quyền tuyên bố về lãnh thổ quốc gia thuộc thẩm quyền cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất là Quốc hội, và việc bảo vệ tòan vẹn lãnh thổ quốc gia luôn luôn là mục tiêu hàng đầu đối với Nhà nước và nhân dân Việt Nam, nhất là trong hoàn cảnh ra đời của Công hàm như đã nêu trên.

Bức "Công thư" (không phải Công hàm), đã rất cẩn trọng từng câu chữ, khi thể hiện sự ủng hộ tuyên bố của Trung Quốc về tuyên bố chủ quyền Biển trong phạm vi 12 hải lý, phù hợp với công ước quốc tế, tuyệt nhiên không có bất cứ từ nào đề cập đến hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa của Việt nam. Trên thực tế 12 hải lý, tính từ bờ biển Trung Quốc không thể có hai vùng quần đảo của Việt nam. 

Do vậy, có thể khẳng định chắc chắn rằng, việc xuyên tạc về bức Công hàm của Thủ tướng Phạm Văn Đồng là sai trái và hoàn toàn không hề có cơ sở.

Trung sĩ Công an cứu người đuối nước, lan tỏa điều tốt đẹp trong cuộc sống

  Trung sĩ Công an cứu người đuối nước, lan tỏa điều tốt đẹp trong cuộc sống      Phát hiện 2 cháu bé đang chấp chới giữa dòng nước, không q...