29/5/20

Nhận diện hoạt động của số còn lại trong “Tổ đồng thuận”

Ngày 23/5/2020 dư luận xã hội lại thấy Nguyễn Văn Thắng (xóm 6, thôn Hoành, xã Đồng Tâm) tự xưng là cháu ngoại Lê Đình Kình đến Dương Nội gặp gỡ Nguyễn Thị Miền, Nguyễn Thị Tâm nhận tiền hỗ trợ. Đây là hoạt động công khai móc lối của thân nhân số đối tượng bị bắt ngày 01/9/2020 tại Đồng Tâm với số đối tượng chống đối chính trị bên ngoài theo sự chỉ đạo của một số người cầm đầu, quá khích còn lại trong “Tổ đồng thuận”. Vậy những người đó là ai? họ đang tiến hành các hoạt động chống đối như thế nào tại Đồng Tâm?

Đó là Hạ Thuân, Bùi Quốc Huy những tay chân tích cực của Lê Đình Kình trước đây nhưng hiện nay vẫn đang làm xóm trưởng xóm 6, 7. Bùi Văn Vệ, Nguyễn Văn Thiệu, Lê Thanh Doãn, Bùi Văn Nhạc (xóm 8), Nguyễn Thị Lan (xóm 8), Lê Thị Hằng (xóm 4), Lê Đình Mỳ... là những thành viên tích cực còn lại trong “Tổ đồng thuận”. Dư luận gần đây có thể nhầm tưởng số này đã “từ bỏ” những hoạt động gây mất an ninh trật tự sau khi Lê Đình Kình cùng một số đối tượng cầm đầu, quá khích tại Đồng Tâm bị lực lượng chức năng tiêu diệt bắt giữ về hành vi vi phạm pháp luật. Nhưng người dân Đồng Tâm ai cũng biết, việc những người này không đến nhà Lê Đình Kình, không tham gia cùng thân nhân Lê Đình Kình đón tiếp, nhận tiền hỗ trợ từ số đối tượng chính trị; hay thể hiện thái độ “nhận biết sai lầm” trong buổi xét kỷ luật đảng của chi bộ thôn Hoành ngày 6/5/2020... chỉ là cách những người này “ẩn mình”, tạo “vỏ bọc” để tránh sự chú ý của dư luận, che đậy những hoạt động kích động gây mất an ninh trật tự tại địa phương mà những người này đang âm thầm chỉ đạo thời gian gần đây.
Trên facebook của những kẻ chống đối chính trị như Phạm Chí Thành, Nguyễn Tường Thụy, Nguyễn Thúy Hạnh, Nguyễn Lân Thắng, Nguyễn Thị Tâm, Trịnh Bá Phương, Cấn Thị Thêu, Đặng Bích Phượng... thường xuất hiện hình ảnh Dư Thị Thành (vợ Lê Đình Kình) với khuôn mặt khắc khổ, khóc lóc thảm thương chia sẻ những bài viết xuyên tạc, cáo chính quyền. Hay việc gần đây Dư Thị Thành cùng với cháu dâu Nguyễn Thị Duyên (vợ Lê Đình Uy) đăng tải đơn kêu cứu, tố cáo lực lượng công an... đều do những người còn trong “Tổ đồng thuận” cấu kết với các đối tượng chống đối chính trị đứng sau chỉ đạo, hướng dẫn. Chính những người này đang từng bước xúi giục, kích động, tạo dựng Dư Thị Thành (vợ Lê Đình Kình), Nguyễn Văn Thắng (xóm 6, con trai Bùi Thị Nối), Bùi Thị Minh (xóm 6, co, Nguyễn Quyết Thắng (xóm 8, bố Nguyễn Quốc Tiến) để công khai hoạt động chống đối chính quyền như những gì mà Lê Đình Kình cùng “Tổ đồng thuận” đã làm trước đây tại Đồng Tâm.
Người dân xã Đồng Tâm đang mong muốn các cơ quan chức năng sớm xử lý đối với những đối tượng đang lợi dụng vụ việc Đồng Tâm để xuyên tạc, kích động gây mất an ninh trật tự tại địa phương. Những hoạt động đứng sau xúi giục, lôi kéo của một số người cầm đầu, quá khích còn lại trong “Tổ đồng thuận” đang bị dư luận, người dân xã Đồng Tâm tẩy chay, lên án mạnh mẽ.

8/5/20

CHỦ TỊCH HỒ CHÍ MINH TRONG TRÁI TIM NHÂN LOẠI

Nửa thế kỷ đã trôi qua kể từ ngày Chủ tịch Hồ Chí Minh từ biệt thế giới này để trở về với cõi vĩnh hằng, nhưng Người còn sống mãi trong trái tim nhân loại, sống mãi với dân tộc Việt Nam và bạn bè quốc tế…    

Điếu văn của Ban Chấp hành Trung ương Đảng Lao động Việt Nam (nay là Đảng Cộng sản Việt Nam) do đồng chí Lê Duẩn, Bí thư thứ nhất đọc tại lễ truy điệu trọng thể Chủ tịch Hồ Chí Minh ngày 9/9/1969 tại Quảng trường Ba Đình, có đoạn: “Hồ Chủ tịch kính yêu của chúng ta không còn nữa! Tổn thất này vô cùng lớn lao! Đau thương này thật là vô hạn! Dân tộc ta và Đảng ta mất một vị lãnh tụ thiên tài và một người thầy vĩ đại. Phong trào cộng sản quốc tế, phong trào giải phóng dân tộc và cả loài người tiến bộ mất một chiến sĩ lỗi lạc, một người bạn chiến đấu kiên cường và thân thiết. Đồng bào và chiến sĩ cả nước ta thương nhớ Người khôn xiết! Anh em và bầu bạn khắp năm châu cùng chia sẻ nỗi đau buồn sâu sắc của chúng ta... Dân tộc ta, nhân dân ta, non sông đất nước ta đã sinh ra Hồ Chủ tịch, người Anh hùng dân tộc vĩ đại và chính Người đã làm rạng rỡ dân tộc ta, nhân dân ta, non sông đất nước ta".
Trong quá trình tìm đường cứu nước, Nguyễn Tất Thành - Nguyễn Ái Quốc đã rút ra chân lý: "Dù màu da có khác nhau, trên đời này chỉ có hai giống người: giống người bóc lột và giống người bị bóc lột. Mà cũng chỉ có một mối tình hữu ái là thật mà thôi: tình hữu ái vô sản".
Chủ tịch Hồ Chí Minh là người đặt nền móng và suốt đời vun đắp cho tình đoàn kết quốc tế giữa nhân dân Việt Nam với bè bạn năm châu. Hoạt động không mệt mỏi của Người cho sự đoàn kết và hiểu biết giữa các dân tộc đã có hiệu quả thiết thực. Từ rất sớm, Người đã được coi như một biểu tượng cao đẹp của đoàn kết quốc tế.
Trên tạp chí Ngọn lửa nhỏ, số 39, nhà văn, nhà báo Liên Xô Ô xít Manđenxtam, trong bài Thăm một chiến sĩ Cộng sản quốc tế - Nguyễn Ái Quốc đã nhận xét: “Từ gương mặt Nguyễn Ái Quốc toát lên sự lịch thiệp và tế nhị, từ Nguyễn Ái Quốc đã tỏa ra một thứ văn hóa. Không phải văn hóa châu Âu, mà có lẽ là một nền văn hóa tương lai... Qua phong thái thanh cao và trong giọng nói trầm ấm của Nguyễn Ái Quốcchúng ta như nghe thấy ngày mai, như thấy sự yên tĩnh mênh mông của tình hữu ái toàn thế giới.
Sau Cách mạng tháng Tám năm 1945, sau khi long trọng tuyên bố trước quốc dân đồng bào và bạn bè quốc tế sự ra đời của nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa - nhà nước dân chủ nhân dân đầu tiên ở Đông Nam Á, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã sớm công bố chính sách đối ngoại nhất quán của nhà nước Việt Nam: “ làm bạn với tất cả mọi nước dân chủ và không gây thù oán với ai...
Cảm phục cống hiến vĩ đại của Hồ Chí Minh cho dân tộc, nhân loại, và tấm gương đạo đức cao đẹp của Người, nhân dân ta và bạn bè trên thế giới đã dùng những lời tốt đẹp nhất để ca ngợi Người. D.Orvill, Phó Tổng giám đốc UNESCO nói: “Câu nói nổi tiếng của Hồ Chí Minh Không có gì quý hơn độc lập tự do có giá trị toàn cầu”. Còn theo Thủ tướng Ấn Độ Nehru, “Xét theo bất cứ tiêu chuẩn nào, Người cũng là nhân vật nổi bật nhất trong thời đại chúng ta”.
Năm nay, nhân dân Việt Nam kỷ niệm 50 năm thực hiện Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Di chúc là văn kiện cuối cùng khép lại cuộc đời hoạt động oanh liệt của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Cùng với Bản yêu sách 8 điểm gửi Hội nghị Versaills năm 1919 đòi quyền tự quyết cho dân tộc Việt Nam, Di chúc đã đề cập vấn đề lớn nhất của ngày hôm nay: Quyền con người, quyền mưu cầu hạnh phúc và cuộc đấu tranh bảo vệ quyền sống, quyền Độc lập - Tự do - Hạnh phúc của mỗi con người.
Những điều đó là lý tưởng mà Hồ Chí Minh suốt đời theo đuổi. Đây cũng thể hiện Hồ Chí Minh là một tâm hồn lớn, một nhà văn hóa lớn không những của dân tộc Việt Nam mà là của toàn nhân loại.
Đồng cảm với nhân dân Việt Nam, Chủ tịch Ủy ban Hòa bình Nhật Bản M. Haxeegaoa đã đánh giá: "Những lời dạy trong Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh cần phải được thực hiện ở bất cứ nơi nào trên quả đất”. 

                 
Niki ta Khơ rút xốp, nguyên Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Liên Xô trong hồi kí của mình đã coi Hồ Chí Minh là “vị Thánh cách mạng, vị thánh của Chủ nghĩa cộng sản”. Ông giải thích: “Trong cuộc đời hoạt động chính trị của mình, tôi đã biết rất nhiều người, nhưng không có người nào gây được ở tôi một ấn tượng đặc biệt như Hồ Chí Minh. Không ai có thể chống lại nổi ông vì niềm tin của ông mãnh liệt, tin ở nhân dân mình và tất cả các dân tộc cũng như ở sự nghiệp cao cả”.
Nhà nghiên cứu, nhà văn Helene Tourmaire trong cuốn sách Trở thành người Bác như thế nào? xuất bản tại Berlin, Đức, đánh giá: “Hồ Chí Minh là hình ảnh sự khôn ngoan của Đức Phật, lòng nhân từ của Chúa, tinh thần nhiệt tình cách mạng của Lênin, sự ung dung của một người chủ dân tộc. Tất cả được kết hợp hài hòa trong một dáng dấp tự nhiên.
Một đoàn đại biểu đến từ Úc vào thăm nơi ở và làm việc của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong Khu di tích Phủ Chủ tịch năm 1974, đã ghi vào Sổ cảm tưởng những dòng rất sâu sắc: “Rất ít người đã hoặc sẽ làm được như Người, nhưng ai cũng có thể học được ở Người... để làm người cách mạng và người dân tốt hơn”.
Năm 1987, UNESCO đã tôn vinh Chủ tịch Hồ Chí Minh là Anh hùng giải phóng dân tộc, danh nhân văn hóa kiệt xuất và khuyến nghị các nước thành viên tổ chức kỷ niệm Người trên toàn thế giới vào năm 1990, nhân kỷ niệm 100 năm ngày sinh của Người.
50 năm - nửa thế kỷ đã trôi qua kể từ ngày Hồ Chí Minh từ biệt thế giới này để trở về với cõi vĩnh hằng, nhưng Người còn sống mãi trong trái tim nhân loại, sống mãi với dân tộc Việt Nam và bạn bè quốc tế, bởi vì cuộc đời hoạt động và sự nghiệp vĩ đại của Người là tấm gương cao đẹp tỏa sáng chủ nghĩa nhân văn, kết tinh những tư tưởng, tình cảm, những ước mơ lớn của nhân loại.
Ðúng như lời phát biểu của Chủ tịch Hội đồng Hòa bình thế giới Romet Chandra: "Bất cứ nơi nào chiến đấu cho độc lập, tự do, ở đó có Hồ Chí Minh và ngọn cờ Hồ Chí Minh bay cao. Bất cứ ở đâu chiến đấu cho hòa bình và công lý, ở đó có Hồ Chí Minh và ngọn cờ Hồ Chí Minh bay cao. Ở bất cứ đâu, nhân dân chiến đấu cho một thế giới mới, chống đói nghèo, ở đó có Hồ Chí Minh và ngọn cờ Hồ Chí Minh bay cao".

ĐẠI LỄ PHẬT ĐẢN ĐƯỢC TỔ CHỨC TRỌNG THỂ, AN TOÀN TRONG BỐI CẢNH DỊCH COVID -19, PHÁT HUY TINH THẦN:"ĐẠO PHÁP, DÂN TỘC, XÃ HỘI CHỦ NGHĨA" ĐỒNG HÀNH CÙNG DÂN TỘC

Sáng 7/5 (tức Rằm tháng Tư âm lịch), Giáo hội Phật giáo Việt Nam trọng thể tổ chức Đại lễ Phật đản Phật lịch 2564 – dương lịch 2020. Trong bối cảnh đại dịch COVID-19 đang hoành hành trên thế giới và ở trong nước mặc dù dịch bệnh cơ bản được kiểm soát nhưng luôn tiềm ẩn nguy cơ tái phát, thực hiện Chỉ thị 19 của Thủ tướng Chính phủ và Thông tư số 076/TT-HĐTS của Hội đồng Trị sự, Giáo hội Phật giáo Việt Nam không tổ chức lễ đài tập trung đông người. Đại lễ được truyền hình trực tiếp trên kênh Truyền hình An Viên, VTVCab, phát trực tuyến trên mạng xã hội để đồng bào phật tử cả nước đều được đón nhận không khí kính mừng ngày Đức Phật đản sinh.

Dự Đại lễ có Phó Chủ tịch Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc (MTTQ) Việt Nam Ngô Sách Thực; Hòa thượng Thích Thanh Dũng, Phó Pháp chủ kiêm Chánh Thư ký Hội đồng Chứng minh; Hòa thượng Thích Thanh Nhiễu, Phó Chủ tịch Thường trực Hội đồng Trị sự, các chức sắc Giáo hội Phật giáo Việt Nam, lãnh đạo Ban Tôn giáo Chính phủ, đại diện Bộ Công an, thành phố Hà Nội...

Tại Đại lễ, các tăng, ni và đại biểu đã nghe Hòa thượng Thích Thanh Nhiễu, Phó Chủ tịch Thường trực Hội đồng Trị sự, tuyên đọc Thông điệp Phật đản Phật lịch 2564 – dương lịch 2020 của Đức Pháp chủ Giáo hội Phật giáo Việt Nam. Thông điệp nhắc nhở “mỗi quốc gia, mỗi công dân của một đất nước đều phải trở về với hành động chính niệm trong sự tỉnh thức, nhìn nhận về văn hóa sinh hoạt, về ý thức đồng thuận trong xã hội”.

Trong Thông điệp, Đức Pháp chủ biểu dương chư tôn đức tăng, ni, các chùa và cơ sở tự viện, đồng bào phật tử đã tin tưởng, đồng thuận thực hiện lời kêu gọi của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước; chỉ thị của Thủ tướng Chính phủ; chấp hành tốt các quy định, hướng dẫn chuyên môn của Bộ Y tế; thể hiện tinh thần “tương thân, tương ái”, tham gia đóng góp ủng hộ công tác phòng, chống dịch COVID-19. Đặc biệt, tăng, ni đã có nhiều thời khóa tụng kinh cầu bình an hàng ngày để mang năng lượng thiện lành, niềm tin vững chắc chung tay đẩy lùi dịch bệnh tiêu tan, sớm ổn định cuộc sống bình an.

Các đại biểu dự Đại lễ cũng nghe Phó Chủ tịch Ủy ban Trung ương MTTQ Việt Nam Ngô Sách Thực đọc Thư chúc mừng Phật đản của Chủ tịch Ủy ban Trung ương MTTQ Việt Nam. Qua thư, Chủ tịch Ủy ban Trung ương MTTQ Việt Nam ghi nhận, biểu dương những đóng góp to lớn của Giáo hội Phật giáo Việt Nam và đồng bào phật tử trong, ngoài nước đã có nhiều hành động, nghĩa cử cao đẹp; vừa chấp hành tốt các quy định của Nhà nước về phòng, chống dịch, vừa tham gia ủng hộ vật chất và tinh thần; chung sức, đồng lòng cùng với Đảng, Nhà nước và các tầng lớp nhân dân cơ bản đẩy lùi được dịch COVID-19.

Chủ tịch Ủy ban Trung ương MTTQ Việt Nam mong muốn Giáo hội Phật giáo Việt Nam, chư tôn đức giáo phẩm và toàn thể tăng, ni, đồng bào phật tử tiếp tục phát huy hơn nữa sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân tộc với tinh thần “hộ quốc, an dân” và lòng từ bi, cứu khổ, độ sinh của Phật giáo để cùng nhân dân cả nước vượt qua khó khăn, chiến thắng dịch COVID-19, phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh, nâng cao vị thế của đất nước.

Phát biểu chúc mừng Phật đản, Trưởng ban Tôn giáo Chính phủ Vũ Chiến Thắng khẳng định, từ khi hiện diện ở Việt Nam, Phật giáo luôn lấy đức từ, bi, hỷ, xả để giáo hóa chúng sinh, lấy trí tuệ làm sự nghiệp và chủ trương “Phật pháp bất ly thế gian pháp” để hành đạo. Vì vậy, Phật giáo Việt Nam luôn thể hiện tinh thần “hộ quốc an dân”, gắn bó, đồng hành cùng dân tộc. Trải qua gần 40 năm thành lập, Giáo hội Phật giáo Việt Nam đã không ngừng được củng cố, phát triển lớn mạnh về mọi mặt, thực hiện hòa hợp, đoàn kết, thống nhất, luôn phát huy tinh thần gắn bó đồng hành cùng dân tộc, động viên tăng, ni, phật tử cùng toàn dân thực hiện nghiêm chính sách, pháp luật của Nhà nước, thực hiện trách nhiệm và nghĩa vụ công dân, đoàn kết giữa các tôn giáo, xây dựng Giáo hội vững mạnh, góp phần xây dựng đất nước phát triển bền vững, vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, công bằng, dân chủ, văn minh.

“Lễ Phật đản năm nay diễn ra trong bối cảnh đại dịch COVID-19 lan rộng trên toàn thế giới, nhiều hoạt động, trong đó có hoạt động tôn giáo bị đình trệ. Tuy nhiên, trong khó khăn mới thấy được tinh thần đoàn kết của dân tộc Việt Nam, sự chung sức, chung lòng của các giai tầng trong xã hội, của các tôn giáo, trong đó có Phật giáo”, Trưởng ban Tôn giáo Chính phủ nói.

Trưởng ban Tôn giáo Chính phủ Vũ Chiến Thắng đánh giá cao những hoạt động thiết thực mà Giáo hội Phật giáo Việt Nam đã chủ động, tích cực chung tay cùng chính quyền các cấp trong công tác phòng, chống dịch bệnh; mong muốn chư vị tôn đức giáo phẩm Hội đồng Chứng minh, Hội đồng Trị sự sẽ gương mẫu tiếp tục chỉ dẫn, động viên tăng, ni, phật tử cùng thực hiện nghiêm các chỉ thị của Đảng, Nhà nước, các văn bản hướng dẫn của cơ quan chuyên môn, thiết lập trạng thái bình thường mới, có cách thức sinh hoạt tôn giáo phù hợp với tình hình thực tế, đảm bảo an toàn cho chư tăng, ni và đồng bào phật tử, góp phần đẩy lùi hoàn toàn dịch bệnh, bảo vệ sức khỏe cộng đồng. Phát huy truyền thống yêu nước, tinh thần “hộ quốc an dân” và trí tuệ Phật giáo,  Giáo hội Phật giáo Việt Nam tiếp tục hạnh nguyện nhập thế, lấy việc phục vụ nhân sinh, ích đạo, lợi đời làm phương tiện để tu hành, tiếp tục khẳng định những giá trị ưu việt của một tôn giáo hòa bình, xứng đáng với sự tin yêu, gửi gắm của tăng, ni, phật tử trong và ngoài nước.

Tại Đại lễ, các tăng, ni, đại biểu đã dành một phút tưởng nhớ công lao to lớn của Chủ tịch Hồ Chí Minh, các Anh hùng liệt sỹ, đồng bào tử nạn và thực hiện nghi thức dâng hương, tắm Phật truyền thống./.

Không hề có chuyện Công hàm của Thủ tướng Phạm Văn Đồng "dâng" biển đảo cho Trung Quốc!

Trong công hàm gửi Liên Hợp Quốc ngày 17/4, Trung Quốc dẫn Công thư năm 1958, cho rằng "Chính phủ Việt Nam công nhận và ủng hộ tuyên bố của chính phủ Trung Quốc về lãnh hải mà Trung Quốc đưa ra ngày 4/9/1958". Theo đó, Trung Quốc đòi có "lãnh hải 12 hải lý, áp dụng cho tất cả lãnh thổ của Trung Quốc, gồm có Đông Sa, Tây Sa, Nam Sa và Trung Sa và các đảo khác thuộc Trung Quốc". Ngay lập tức, các đối tượng phản động, chống đối ở trong nước đã đưa thông tin trên, cho rằng “chính phủ cộng sản bán biển đảo cho Trung Quốc” từ năm 1958, bôi nhọ uy tín của Thủ tướng Phạm Văn Đồng. 
Bức Công hàm của cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng
Nhìn nhận lại bức Công hàm và bối cảnh tình hình, chúng ta có thể thấy rõ sự xuyên tạc của Trung Quốc cũng như đám phản động ở trong nước. Trước hết, việc Trung Quốc diễn giải nội dung Công hàm ngày 14/9/1958 của Thủ tướng Phạm Văn Đồng như là một chứng cứ cho thấy Việt Nam đã công nhận chủ quyền của Trung Quốc đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa là hết sức phiến diện và xuyên tạc nội dung, ý nghĩa của bản Công hàm đó, hoàn toàn xa lạ với nền tảng pháp lý của Việt Nam cũng như luật pháp quốc tế, bất chấp thực tế khách quan của bối cảnh lịch sử đương thời. Cụ thể, về nội dung bức công hàm, ngày 14/9/1958, Thủ tướng Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (VNDCCH) Phạm Văn Đồng gửi Công hàm cho Thủ tướng Chu Ân Lai, nguyên văn như sau:"Thưa Đồng chí Tổng lý, Chúng tôi xin trân trọng báo tin để Đồng chí Tổng lý rõ: Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ghi nhận và tán thành bản tuyên bố ngày 4 tháng 9 năm 1958 của Chính phủ nước Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa quyết định về hải phận của Trung Quốc. Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tôn trọng quyết định ấy và sẽ chỉ thị cho các cơ quan Nhà nước có trách nhiệm triệt để tôn trọng hải phận 12 hải lý của Trung Quốc trong mọi quan hệ với nước Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa trên mặt biển. Chúng tôi xin kính gửi Đồng chí Tổng lý lời chào rất trân trọng”.

Công hàm 1958 có hai nội dung rất rõ ràng:

Một là, Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ghi nhận và tán thành việc Trung Quốc mở rộng lãnh hải ra 12 hải lý;

Hai là, Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa chỉ thị cho các cơ quan nhà nước tôn trọng giới hạn lãnh hải 12 hải lý mà Trung Quốc tuyên bố.

Trong Công hàm của Thủ tướng Phạm Văn Đồng không có từ nào, câu nào đề cập đến vấn đề lãnh thổ và chủ quyền, càng không nêu tên bất kỳ quần đảo nào như Trung Quốc đã nêu.

Do vậy, chỉ xét về câu chữ trong một văn bản có tính chất ngoại giao cũng dễ dàng nhận thấy mọi suy diễn cho rằng Công hàm 1958 đã tuyên bố từ bỏ chủ quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa và coi đó là bằng chứng khẳng định Việt Nam đã thừa nhận chủ quyền của Trung Quốc đối với hai quần đảo này là xuyên tạc lịch sử và hoàn toàn không có cơ sở pháp lý.

Bởi, hơn ai hết, chính Thủ tướng Việt Nam Dân chủ Cộng hòa thấu hiểu quyền tuyên bố về lãnh thổ quốc gia thuộc thẩm quyền cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất là Quốc hội, và việc bảo vệ tòan vẹn lãnh thổ quốc gia luôn luôn là mục tiêu hàng đầu đối với Nhà nước và nhân dân Việt Nam, nhất là trong hoàn cảnh ra đời của Công hàm như đã nêu trên.

Bức "Công thư" (không phải Công hàm), đã rất cẩn trọng từng câu chữ, khi thể hiện sự ủng hộ tuyên bố của Trung Quốc về tuyên bố chủ quyền Biển trong phạm vi 12 hải lý, phù hợp với công ước quốc tế, tuyệt nhiên không có bất cứ từ nào đề cập đến hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa của Việt nam. Trên thực tế 12 hải lý, tính từ bờ biển Trung Quốc không thể có hai vùng quần đảo của Việt nam. 

Do vậy, có thể khẳng định chắc chắn rằng, việc xuyên tạc về bức Công hàm của Thủ tướng Phạm Văn Đồng là sai trái và hoàn toàn không hề có cơ sở.

BẢN CHẤT VIỆT TÂN - TRONG LÚC KHÓ KHĂN MỚI LỘ TÊN ĐỐN MẠT. VIỆT TÂN ĐÃ LÀM GÌ CHO ĐẤT NƯỚC TRONG MÙA ĐẠI DỊCH

Từ trước đến nay, tổ chức khủng bố Việt Tân với trang fanpage Việt Tân thường xuyên lên mạng để phê phán, chỉ trích chính quyền Việt Nam, tuyên truyền về con đường dân chủ, nhân quyền theo kiểu phương Tây và mục tiêu xây dựng đất nước Việt Nam giàu đẹp “hơn những gì cộng sản” đã làm. Ở cộng đồng hải ngoại, Việt Tân thường xuyên tổ chức các buổi quyên góp, kêu gọi bà con hải ngoại ủng hộ để tổ chức này có nguồn tài chính nhằm mục tiêu “canh tân đất nước”. Ông cha ta có câu, “khó khăn mới biết lòng người”, trong khi cả dân tộc đang đồng lòng trong việc đối phó với dịch bệnh, dư luận đặt câu hỏi, vậy tổ chức Việt Tân đã làm được gì cho đất nước.
Câu trả lời là KHÔNG, không một sự hỗ trợ nào cho người dân trong nước. Không một chiếc khẩu trang nào gửi về quê hương, không một đồng tiền nào ủng hộ người dân, doanh nghiệp trước khó khăn của dịch Covid-19, không hề thấy thành viên tổ chức Việt Tân nào đến những vùng dịch hay những vùng khó khăn để hỗ trợ người dân nhưng hễ mở miệng ra là "chính quyền giấu dịch", "thiếu minh bạch trong báo cáo số liệu", "số người chết và ca nhiễm bệnh cao gấp hàng chục lần báo cáo". Tôi nghĩ rằng, liêm sỉ là thứ thừa thãi đối với tổ chức khủng bố Việt Tân. Trong khi đó, mỗi khi địa phương nào có điểm nóng về an ninh, trật tự như biểu tình, khiếu kiện đất đai hay sự cố môi trường biển, người ta lại thấy bóng dáng thành viên tổ chức Việt Tân đứng sau, tài trợ tiền, phương tiện, thậm chí là rất nhiều tiền cho các đối tượng chống đối. Hóa ra, tài chính, ngân sách của Việt Tân chỉ chủ yếu giành cho việc chống phá chứ không phải là xây dựng đất nước, giúp đỡ người dân gì cả.
Trong khi đó, người ta đã nhìn thấy những khuôn mặt đầy rẫy lo âu và mái tóc bạc phơ của lãnh đạo Đảng, Nhà nước sau nhiều đêm thức trắng bàn chuyện chống dịch, tôi nhìn thấy những hình ảnh bác sỹ, chiến sỹ ăn vội bát cơm, gục đầu ngủ xuống dưới sàn đất lạnh giá trong cuộc đối đầu với Covid-19 và tôi nhìn thấy những ánh mắt biết ơn, cảm phục của bệnh nhân, trong đó có cả người nước ngoài đối với các y bác sỹ - những người đã cứu sống họ. Nhưng họ không nhìn thấy bất cứ sự lo lắng nào của các tổ chức phản động như Việt Tân đối với dịch bệnh trong nước, ngoài hành động chọc gậy bánh xe thông qua đưa thông tin thất thiệt về tình hình, hòng làm lòng người rối loạn.
Thế mới biết, Việt Tân là tổ chức yêu nước hay phá hoại đất nước.

ĐIỆN BIÊN PHỦ: LỪNG LẪY NĂM CHÂU CHẤN ĐỘNG ĐỊA CẦU

Chiến thắng Điện Biên Phủ ngày 7/5/1954 không những là mốc son chói lọi trong lịch sử dân tộc Việt Nam mà còn cổ vũ phong trào chống chủ nghĩa thực dân, giải phóng dân tộc trên thế giới.
Vì sao thực dân Pháp thất trận?
Tướng 4 sao Henri Navarre-tổng chỉ huy quân viễn chinh Pháp ở Đông Dương chính là tổng công trình sư của tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ vốn được mệnh danh là “một pháo đài bất khả xâm phạm, một tập hợp những gì mạnh nhất, kiên cố nhất chưa từng có ở Đông Dương”, “một Verdun ở châu Á”. Theo tờ South China Morning Post, dưới sự chỉ huy của tướng Henri Navarre, quân Pháp đã liều lĩnh khi tuyên bố sẽ “bẻ gãy Việt Minh”. Thế nhưng, kết cục lại là “chính họ lần lượt bị bẻ gãy”. CNN cũng cho rằng, người Pháp đã bị mắc vào “nút thòng lọng” do chính mình tạo ra.
Tờ South China Morning Post nhận định, thất bại tại Điện Biên Phủ là vì quân Pháp suy yếu, “không đủ sức đánh lại vị tướng huyền thoại Võ Nguyên Giáp và những người lính thiện chiến của ông”. Trong khi đó, trang mạng War History Online cho rằng, sự kiêu ngạo, thiếu hiểu biết cùng yếu kém trong lập kế hoạch chính là “những vũ khí được các chỉ huy Pháp sử dụng trong trận Điện Biên Phủ để rồi dẫn tới thất bại của chính mình”. Theo đó, quân Pháp và các cố vấn Mỹ đã đánh giá thấp, cho rằng đối phương “lạc hậu, không được huấn luyện bài bản và dễ bị đánh bại”. Thế nhưng, trên thực tế, bộ đội Việt Nam “thiện chiến theo những cách rất khác với kẻ thù phương Tây” bởi họ “hiểu cách chiến đấu ở đất nước mình, chứ không chỉ đơn thuần là cách chiến đấu theo kiểu châu Âu có trong sách vở”.
Theo trang mạng War History Online, việc tướng Henri Navarre chọn Điện Biên Phủ để xây dựng một tập đoàn cứ điểm chính là “chọn lựa tệ hại”. Địa thế của một thung lũng lòng chảo với rừng núi bao bọc xung quanh khiến “14.000 quân Pháp gần như ngay lập tức bị bao vây và các đường tiếp tế bị cắt đứt”. Tại Điên Biên Phủ, người Pháp đã mắc sai lầm “giống như những gì mà quân đội phương Tây sẽ lặp lại trong nửa sau của thế kỷ 20”-đó là đánh giá thấp tiềm năng của chiến tranh du kích. “Sự kiêu ngạo và thiếu năng lực của họ trong trận chiến kéo dài từ tháng 3 đến 5-1954 đã dẫn tới thất bại hoàn toàn của Pháp trong chiến tranh Đông Dương, đem lại chiến thắng cho Việt Minh và độc lập cho Việt Nam”, trang mạng War History Online nhấn mạnh.
Trong cuốn sách “Điện Biên Phủ: 13-3 đến 7-5-1954”, Tiến sĩ Ivan Cadeau, một nhà nghiên cứu lịch sử người Pháp cho rằng, trận Điện Biên Phủ “là thất bại không thể phủ nhận của quân đội Pháp trước một đối thủ dũng cảm”. Chính tướng Henri Navarre, trong cuốn hồi ký “Đông Dương hấp hối”, phải thừa nhận, một trong những nguyên nhân khiến thực dân Pháp không thể hiện thực hóa mục tiêu kết thúc cuộc chiến tranh Đông Dương trong vòng 18 tháng trong danh dự là vì “sự lạc quan quá đáng” và “đánh giá quá thấp những khả năng của đối phương”.
“Một đòn anh dũng”
Chiến thắng Điện Biên Phủ ngày 7-5-1954 được kênh truyền hình Pháp France 24 nhận định là “một đòn anh dũng” giáng vào chủ nghĩa thực dân kiểu cũ, là “một thời khắc quan trọng trong lịch sử” của Việt Nam và “một cột mốc trong lịch sử phong trào giải phóng dân tộc trên thế giới”. Tờ The New York Times cho rằng, sự sụp đổ của tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ “đặt dấu chấm hết cho sự ảnh hưởng quân sự của Pháp tại châu Á”; trong khi, theo CNN, việc Việt Minh đánh bại Pháp tại Điện Biên Phủ khiến cả xứ lục lăng bàng hoàng cũng như “chấm dứt sự đô hộ của Pháp ở Đông Dương”. Tờ Frontline của Ấn Độ nhận xét: Chiến thắng Điện Biên Phủ cho thấy “một nước châu Á nhỏ bé đã đánh bại một cường quốc thực dân châu Âu hùng mạnh” và là “động lực to lớn cho phong trào giải phóng dân tộc trên khắp thế giới”.
Theo nhà nghiên cứu lịch sử người Pháp Ivan Cadeau, trận Điện Biên Phủ thực sự là “tấn bi kịch với những binh lính Pháp, những người trú ẩn trong căn hầm được đào sâu trong lòng các ngọn đồi được đặt tên theo những người phụ nữ, trải qua nhiều trạng thái đan xen, từ tin tưởng tuyệt đối đến ủ rũ, từ hy vọng đến tan vỡ ảo tưởng, cho đến một chung cuộc cuối cùng”. “Trận Điện Biên Phủ năm 1954 và thất bại ê chề của Pháp là một trong những sự kiện quan trọng nhất của thời kỳ sau Chiến tranh Thế giới thứ hai. Nó báo hiệu ngày tàn của các nước thực dân châu Âu tại châu Á, bởi sau đó, vào năm 1957, thực dân Anh đã phải rút khỏi Malaysia”, tờ South China Morning Post khẳng định.

HUY ĐỨC VÀ BẦY KỀN KỀN

Kền kền là loại động vật chuyên rỉa xác thối, bị các loài khác xa lánh bởi lẽ nó chỉ thích kiếm ăn trên xác chết của người khác. Đã từ lâu, người ta sử dụng hình ảnh kền kền để nói tới những kẻ cơ hội, chuyên lợi dụng nỗi đau của người khác để kiếm lời, tô vẽ cho bản thân. Vụ việc Đồng Tâm là cơ hội cho không ít kẻ, dưới nhiều danh nghĩa, từ phóng viên, cựu nhà báo, dân chủ viên,… lao vào để kiếm chắc, gây dựng tên tuổi.

Như trang đã đề cập trong bài trước, tối ngày 28/4, đồng loạt trên báo Thanh niên và Báo Tuổi trẻ đăng bài viết: “Ban dân vận Thành ủy Hà Nội tự nhận chưa sâu sát, nhạy cảm về vụ việc ở Đồng Tâm” (Báo Tuổi trẻ), hay “Ban Dân vận Thành ủy Hà Nội thừa nhận tham mưu chưa sát vụ Đồng Tâm” khiến dư luận không khỏi hoang mang. Có chi tiết rất lưu ý là ngay sau khi Báo Tuổi trẻ đăng dòng tiêu đề cố tình gây hiểu nhầm về bản chất vụ Đồng Tâm, ngay lập tức, một cựu phóng viên báo Tuổi trẻ mà chúng ta đều biết đến là Trương Huy San (Huy Đức Osin) đã nhanh chóng trích dẫn bài viết kèm theo lời phụ họa “để làm rõ vấn đề”. Anh ta viết “Chắc quý vị ở Ban Dân vận, chỗ sâu xa, cũng hiểu rằng, chẳng phải "chưa sâu sát, chưa nhạy cảm" đâu. Gốc rễ của cách hành xử bất chấp nhân tính và luật pháp nằm ở chỗ, rất nhiều quan chức thoái hóa biến chất đã không còn coi DÂN - bà con Đồng Tâm - là DÂN nữa”. Và chúng ta nhanh chóng nhận ra, ý đồ của Tuổi trẻ và Huy Đức hướng tới điều gì: là rửa tội cho Lê Đình Kình và xuyên tạc về vụ việc Đồng Tâm.
Chân dung Trương Huy San (Huy Đức Osin)
Thực tế, Lê Đình Kình không phải là một DÂN bình thường, mà đây là một kẻ phạm tội, thậm chí, không nói quá là một kẻ khủng bố. Y và đồng bọn đã có thời gian dài gây rối trật tự tại Đồng Tâm, chuẩn bị, tích lũy phương tiện, vũ khí để chống đối cơ quan chức năng. Việc mua sắm bom xăng, phân công người tấn công cơ quan chức năng không chỉ ngày một ngày hai, mà là cả quá trình lâu dài, có sự ủ mưu từ trước. Trong sáng ngày 9/1, chính các đối tượng đã khai nhận rằng, Kình đã chỉ đạo con cháu của mình chống đối quyết liệt, thậm chí còn nói ‘cứ giết ba thằng rồi bọn kia sẽ sợ mà rút”. Đến khi bị tiêu diệt, trên tay y vẫn cầm quả lựu đạn, thể hiện quyết tâm chống đối đến cùng, và việc chống đối của y hoàn toàn có thể gây nguy hiểm cho các cán bộ công an nên việc tiêu diệt y là hoàn toàn đúng pháp luật.

Anh Huy Đức lập lờ đánh tráo khái niệm “Bà con Đồng Tâm” và tổ Đồng Thuận do Lê Đình Kình cầm đầu. Thử hỏi, Huy Đức đã một lần đặt chân đến Đồng Tâm, tiếp xúc với người dân Đồng Tâm như ông Trần Ngọc Viễn, thương binh Phạm Đức Hinh hay số cán bộ bị đám Lê Đình Kình đe dọa, sỉ nhục hay chưa. Xin anh hãy nghe họ nói một lần, để anh hiểu rõ thế nào là DÂN. Anh đã nghe những lời khai mất hết tính người của Lê Đình Công, Lê Đình Chức,… để hiểu đám người “bà con Đồng Tâm” mà anh nói nó dã man, nó tàn ác như thế nào hay không. Hay anh thử đứng trước di ảnh của 3 liệt sỹ công an hi sinh trong vụ Đồng Tâm để anh hiểu ai mới là nạn nhân của vụ việc này.

Trung sĩ Công an cứu người đuối nước, lan tỏa điều tốt đẹp trong cuộc sống

  Trung sĩ Công an cứu người đuối nước, lan tỏa điều tốt đẹp trong cuộc sống      Phát hiện 2 cháu bé đang chấp chới giữa dòng nước, không q...