2/1/23

THỦ ĐOẠN VIẾT LẠI LỊCH SỬ, LÀM SAI LỆCH CHIẾN THẮNG ''HÀ NỘI - ĐIỆN BIÊN PHỦ TRÊN KHÔNG''

 50 năm đi qua, đã có rất nhiều cuộc hội thảo, nghiên cứu làm sáng tỏ bản chất, ý nghĩa chiến thắng “Điện Biên Phủ trên không”. Những số liệu đưa ra đã được thẩm định, đánh giá với bằng chứng xác thực, cả phía Mỹ và Việt Nam đều thừa nhận chứ không phải là những con số tự nghĩ ra hay thích thì ghi số này, sau lại sửa số khác. Cần khẳng định rõ, chiến thắng “Điện Biên Phủ trên không” có được nhờ đường lối chiến tranh nhân dân đúng đắn và nghệ thuật quân sự tài tình của Việt Nam.

Trong những ngày cuối tháng 12/2022, các cơ quan chức năng triển khai nhiều hoạt động ý nghĩa, thiết thực nhân kỷ niệm 50 năm chiến thắng “Điện Biên Phủ trên không” (12/1972 – 12/2022). Chiến thắng “Điện Biên Phủ trên không” là một mốc son chói lọi trong lịch sử đấu tranh dựng nước, giữ nước của dân tộc ta. Thế nhưng trong dịp này, các thế lực xấu lại rêu rao, đưa ra nhiều bài viết xuyên tạc lịch sử, cho rằng chiến thắng “Điện Biên Phủ trên không” chỉ là do “gặp thời”, “may mắn”. Họ còn cho rằng quân và dân Việt Nam sẽ không thể làm nên một “Điện Biên Phủ trên không” nếu khi đó Mỹ tiếp tục duy trì cuộc ném bom hủy diệt miền Bắc thêm một thời gian nữa. Có bài viết “vặn” vấn đề rằng, Mỹ ký Hiệp định Paris là do phía Mỹ chủ động chứ không phụ thuộc vào kết quả cuộc ném bom trong 12 ngày đêm cuối năm 1972 tại miền Bắc Việt Nam...

Một bài viết đăng trên BBC News Tiếng Việt cho rằng, trong cuộc chiến tranh 12 ngày đêm ấy, các phi công Mỹ bị bắt, cầm tù, tra tấn và thường xuyên bị bêu riếu trên truyền hình, tạo sức ép cho chính quyền Mỹ phải ngồi vào bàn đám phán Paris mới được đưa tù binh Mỹ về nước. Họ biến mọi con số thống kê thành ảo khi nghi ngờ rằng, Việt Nam cố tình thống kê quá mức con số bắn hạ máy bay B52 để khuếch trương thanh thế!

Mới đây, trên Quora, thiếu tá Keith Parker từng phục vụ trên các máy bay B-52G và C-130 cố tình xuyên tạc sự thật khi viết rằng, Việt Nam đã bắn hơn 1.400 tên lửa SAM[1]2 lên bầu trời “một cách mù quáng” để hạ gục các máy bay B-52 chứ không phải là do thực lực của phòng không Việt Nam. Keith Parker cho rằng, Bộ Chỉ huy phòng thủ hàng không vũ trụ Bắc Mỹ (NORAD) và Bộ Tư lệnh Không quân Chiến lược (SAC) đã tự nghiên cứu rất nhiều phương pháp chống B-52 nhưng đều thất bại, ngay cả những quốc gia như Liên Xô cũng đều không dám tự tin hạ gục B-52. Từ đó, đánh lái bản chất sự kiện này thành “Việt Nam đã thất bại vào 12/1972 chứ không phải là một chiến thắng như họ tuyên truyền.

Thủ đoạn viết lại lịch sử, làm sai lệch chiến thắng “Điện Biên Phủ trên không” -0
Máy bay B-52 đầu tiên bị Tiểu đoàn 59, Trung đoàn Tên lửa 261 bắn rơi trên cánh đồng Chuôm, xã Phù Lỗ, Đông Anh (Hà Nội) vào đêm 18/12/1972. Ảnh: Tư liệu

Thiệt hại của Việt Nam nặng nề hơn trong khi chỉ bắn hạ được 2% số B-52 mà Hoa Kỳ có”! Một số cựu phi công của Hạm đội 7 cho rằng, Việt Nam đã may mắn bắn hạ được B-52 nhờ vào chiến thuật “vãi đạn”; là kết quả của chiến thuật sử dụng hỏa lực phòng không “bừa bãi” để hạ gục B-52 chứ không đến từ sự tính toán chiến thuật và năng lực phòng không! Gary Cummings, một cựu binh từng tham chiến tại Việt Nam còn đặt một giả thuyết rằng, tất cả đều do chính những sĩ quan Liên Xô mới bắn rụng B-52 chứ không có bộ đội nào của Việt Nam bắn hạ. Một cựu binh khác là Paul Reinman còn khôi hài hơn khi cho rằng, phi công MiG của Việt Nam đã bắn hạ B-52 là “do vô tình lạc vào đường bay của B-52 chứ không phải là do năng lực”! Trong một diễn đàn tự cho là “nghiên cứu lịch sử”, có một số người cổ suý những quan điểm lệch lạc trên, từ đó bình luận rằng, Việt Nam đã may mắn bắn hạ B-52 vì sự chủ quan của đối phương, vì trời tối, vì sự chủ quan của quân Mỹ…

Những luận điệu trên làm sai lệch bản chất sự kiện, tung ra những con số ảo và tạo nghi vấn về các số liệu lịch sử nhằm gây nhiễu loạn thông tin, xuyên tạc ý nghĩa, giá trị của chiến thắng “Điện Biên Phủ trên không”. Trên thực tế, chính Mỹ đã thừa nhận mình là bên không chịu nổi tổn thất và buộc phải ra lệnh chấm dứt ném bom miền Bắc và ngồi vào bàn đám phán ký kết Hiệp định Paris.

50 năm đi qua, đã có rất nhiều cuộc hội thảo, nghiên cứu làm sáng tỏ bản chất, ý nghĩa chiến thắng “Điện Biên Phủ trên không”. Những số liệu đưa ra đã được thẩm định, đánh giá với bằng chứng xác thực, cả phía Mỹ và Việt Nam đều thừa nhận chứ không phải là những con số tự nghĩ ra hay thích thì ghi số này, sau lại sửa số khác. Cần khẳng định rõ, chiến thắng “Điện Biên Phủ trên không” có được nhờ đường lối chiến tranh nhân dân đúng đắn và nghệ thuật quân sự tài tình của Việt Nam.

Với tầm nhìn xa, trông rộng, Đảng và Bác Hồ đã sớm chỉ đạo bộ đội Phòng không - Không quân chuẩn bị tinh thần và lực lượng để đánh máy bay B.52 và các loại máy bay chiến thuật khác từ nhiều năm trước đó. Trong 12 ngày đêm của chiến dịch lịch sử, quân và dân ta đã chiến đấu anh dũng, không khoan nhượng.

Chiến thắng ấy là sự minh chứng hùng hồn sức mạnh của con người Việt Nam, sức mạnh của sự kết hợp hài hòa các yếu tố cách mạng và khoa học, giữa bản lĩnh vững vàng, khí phách tiến công, quyết đánh và trí tuệ để đánh thắng, sự kết hợp giữa tinh thần quyết chí, tin tưởng với đức hy sinh cao thượng.

Thực tế lịch sử ghi rõ, tháng 12/1972, Mỹ tiến hành cuộc tập kích đường không chiến lược bằng B.52 nhằm gây sức ép buộc ta phải chấp nhận ký Hiệp định Pari theo các điều khoản sửa đổi của Mỹ; đánh phá, hủy diệt tiềm lực kinh tế - quốc phòng của miền Bắc, hạn chế sự chi viện cho cách mạng miền Nam, làm tê liệt ý chí chiến đấu, quyết chiến, quyết thắng của dân tộc ta; đe dọa phong trào đấu tranh của nhân dân thế giới. Thực hiện âm mưu này, Mỹ đã huy động số lượng lớn máy bay, tàu chiến và các loại vũ khí vào chiến dịch.

Đây là cuộc huy động lực lượng tập kích đường không lớn nhất của Mỹ kể từ sau đại chiến thế giới lần thứ hai đến năm 1972. Trong đó, máy bay chiến lược B.52 gồm 193/tổng số 400 chiếc hiện có của quân đội Mỹ; máy bay không quân chiến thuật gồm 1.077/tổng số 3.043 chiếc (có 1 biên đội máy bay F. 111 khoảng 50 chiếc); tàu sân bay với 6/24 chiếc; hơn 50 máy bay tiếp dầu trên không và một số loại máy bay phục vụ khác như máy bay gây nhiễu từ xa, máy bay trinh sát chiến lược, chiến thuật, máy bay chỉ huy, liên lạc dẫn đường, cấp cứu cùng 60 tàu chiến các loại của Hạm đội 7 ở Thái Bình Dương. Máy bay chiến lược B.52, còn được gọi là siêu pháo đài bay B.52, là máy bay chiến đấu hiện đại nhất của không lực Hoa Kỳ vào thời điểm đó, có tải trọng vũ khí 18 - 30 tấn bom, có thể mang 12-20 quả tên lửa hành trình ALEM hoặc 8 tên lửa hành trình (tàng hình) ACM, 4 pháo 20mm hoặc một pháo 20mm 6 nòng (gấp 10 lần so với máy bay cường kích). Cuộc tập kích đường không chiến lược của đế quốc Mỹ vào miền Bắc nước ta cuối tháng 12/1972 là một cuộc ném bom có tính hủy diệt.

Trong 12 ngày và đêm, Mỹ đã sử dụng 663 lần máy bay B.52 và 3.920 lần máy bay chiến thuật ném xuống Hà Nội, Hải Phòng và một số thành phố, thị xã trên miền Bắc nước ta hơn 100.000 tấn bom, đạn. Chiến dịch thả bom đã huỷ diệt nhiều phố xá, làng mạc, phá sập 5.480 ngôi nhà, trong đó có gần 100 nhà máy, xí nghiệp, trường học, bệnh viện, nhà ga, giết chết 2.368 dân thường, làm bị thương 1.355 người khác.

Với sự chủ động, sáng tạo của nghệ thuật quân sự Việt Nam, qua nhiều năm nghiên cứu, tìm tòi cách đánh máy bay B.52, các lực lượng vũ trang ta với nòng cốt là quân chủng Phòng không - Không quân và nhân dân miền Bắc, nhất là quân dân Thủ đô Hà Nội đã phát huy sức mạnh tổng hợp của thế trận phòng không nhân dân vững chắc, hợp đồng tác chiến chặt chẽ giữa các lực lượng, quyết đánh, biết đánh và quyết thắng.

Ngay từ trận đầu ra quân, đêm 18/12/1972, ta đã bắn rơi tại chỗ “siêu pháo đài bay B.52”, mở màn cho những thắng lợi vang dội trong những trận đánh tiếp theo. 12 ngày đêm chiến đấu anh dũng, kiên cường, mưu trí, sáng tạo, quân vàdân ta đã đánh bại hoàn toàn cuộc tập kích chiến lược đường không quy mô lớn chưa từng có, chủ yếu bằng B.52 của Mỹ, làm nên chiến thắng “Điện Biên Phủ trên không”. Sau thất bại này, Mỹ phải tuyên bố ngừng ném bom từ vĩ tuyến 17 trở ra và chấp nhận quay trở lại bàn đàm phán. Ngày 27/01/1973, Hiệp định Paris về chấm dứt chiến tranh, lập lại hoà bình ở Việt Nam được ký kết. Cuối tháng 3/1973, quân đội Mỹ và chư hầu phải rút khỏi miền Nam Việt Nam.

Không chỉ Việt Nam mà các nghiên cứu từ phía Mỹ cũng đã nhìn nhận rõ vấn đề này. Trên tạp chí Air & Space của Bảo tàng Smithsonian (Mỹ) có bài viết tựa đề “The Christmas Bombing” (Trận mưa bom Giáng sinh) được trích từ cuốn sách The Eleven Days of Christmas: Americas Last Vietnam Battle (11 ngày Giáng sinh: Trận chiến Việt Nam cuối cùng của Mỹ) của tác giả Marshall Michel, người đã trực tiếp đến Hà Nội, mô tả khá chi tiết về chiến dịch Linebacker II do Mỹ chủ mưu. Theo tác giả Marshall Michel, đầu tháng 12/1972, Nixon điện cho Kissinger thông báo kế hoạch ném bom trong kỳ nghỉ lễ Giáng sinh.

Ngày 14/12, Nixon họp với cố vấn an ninh Kissinger, tướng Alexander Haig và chủ tịch Hội đồng tham mưu trưởng liên quân, đô đốc Thomas Moorer thông qua lần cuối chiến dịch Linerbacker II. Mục tiêu mà Mỹ đặt ra là duy trì nỗ lực tối đa để phá hủy tất cả các tổ hợp mục tiêu chính ở khu vực Hà Nội và Hải Phòng và các vùng lân cận, tạo ra “cường độ khủng khiếp để buộc Việt Nam Dân chủ cộng hòa phải chấp nhận điều khoản của Mỹ, và cho chính quyền Nguyễn Văn Thiệu thấy rằng Mỹ không bỏ rơi họ”. Cũng qua chiến dịch này, Nixon muốn răn đe Sài Gòn nếu giúp Nixon kéo dài đàm phán, xa hơn là giúp Nixon chiến thắng trong nhiệm kỳ tổng thống tiếp theo thì Mỹ sẽ tiếp tục viện trợ...

Bài viết trên tạp chí Air & Space cũng nêu rõ, do thiệt hại ngoài sức tưởng tượng nên ngày 30/12/1972, Tổng thống Nixon đã ra lệnh chấm dứt ném bom… Vậy là Hiệp định Paris đã được ký với nội dung về cơ bản không khác mấy so với phương án đã được ký tắt trước khi đàm phán bị kéo dài do Mỹ từ chối ký kết trước đây. Bài viết cũng cho rằng, Mỹ đã chịu rất nhiều tổn thất để rồi vẫn phải ký vào văn bản mà họ không muốn ký, điều này đồng nghĩa là mục tiêu của Mỹ khi phát động chiến dịch Linebacker II thực sự thất bại. Chiến dịch Linebacker II bị phản đối mạnh mẽ trên khắp thế giới, cả ở các nước XHCN lẫn các nước phương Tây, thậm chí tại Mỹ, Nixon còn bị chỉ trích là kẻ điên rồ…

III - Lối đi ngay dưới chân mình!

 Để trở về với đời thường, để được sống trong môi trường bình an của quê hương, đất nước mình, những phạm nhân đã từng phạm lỗi lầm, đã có hành động sai trái hãy tỉnh ngộ, biết nhận ra lẽ phải để cải tạo tốt, tìm lại đường về. Lối về ấy ngay trong suy nghĩ, trong sự nhận thức của mình, lối về ngay dưới bước chân chứ không phải trông đợi ở những tung hô của kẻ giảo hoạt “giải thưởng nhân quyền”, “nhà hoạt động cho dân chủ”…

Còn nhớ, phiên toà xét xử bị cáo Lê Trọng Hùng diễn ra ngày cuối cùng của năm 2021, khi mà cơ quan tiến hành tố tụng thực hiện theo trình tự tố tụng thì số cơ hội bên ngoài chờ sẵn để “ném đá” tạo sóng dư luận, lấy cớ đẩy vụ án sang hướng khác để chống phá Đảng, Nhà nước Việt Nam. Lời nói sau cùng của Lê Trọng Hùng trước toà, nội dung cho thấy bị cáo không ăn năn, hối cải mà vẫn ngoan cố chối tội, thậm chí còn mang tính kích động để những kẻ chống phá lấy cớ vu cáo.

Bị cáo Lê Trọng Hùng ngô nghê nói rằng, lẽ ra đã “trở thành đại biểu Quốc hội”, việc bị phạt tù là “ngăn cản sứ mệnh của tôi trong 5 đến 10 năm” và “tôi ở trại giam tôi vẫn gào ra, tôi buộc các anh quản giáo cắt tóc thật đẹp để hôm sau tôi đi bầu cử, thể hiện tôi đang bảo vệ tính chính danh của Nhà nước”…

III -Lối đi ngay dưới chân mình! -0
Bị cáo Phạm Thị Đoan Trang trước toà.

Những lời nói này cho thấy kiểu giả bộ tâm lý có vấn đề để nhạo báng trước công đường. Tuy nhiên, bị cáo hẳn đã quá ảo vọng, đến lời nói sau cùng là cơ hội để trấn tĩnh, cần biết hối lỗi nhìn ra sự thật thì vẫn tìm cách nói ngông để bấu víu sự can thiệp mơ hồ từ bên ngoài.

Cần nhớ rằng, luật pháp nghiêm minh nhưng cũng khoan dung, xử lý nghiêm kẻ phạm tội nhưng cũng khoan hồng cho những ai biết hối lỗi, biết nhận rõ sai lầm để tìm lại đường về. Toà cho nói lời sau cùng, không biết hối lỗi, sám hối, mà vẫn còn ảo vọng kiểu đó là đã tự tay mình chuốc thêm ngày rộng tháng dài trong trại cải tạo mà thôi. Đối tượng cuồng vọng như vậy, còn bên ngoài cũng đã có những chân rết sẵn sàng “đổ dầu đốt lửa”.

Một thành phần cổ suý đưa lên trang cá nhân, viết “có những người đi đấu tranh chưa về”; tôn sùng bị cáo Lê Trọng Hùng là “một công dân gương mẫu, người khát khao xây dựng một xã hội dân chủ công bằng văn minh thượng tôn pháp luật”; biến tấu hành động tội lỗi của bị cáo thành “Lê Trọng Hùng vô tội, những việc làm của Hùng chỉ giúp ích cho đất nước và nhân dân”.

Rồi liệt kê những kẻ bất hảo chống phá nhân dân “Hùng, Trang, chị Tâm, chị Thêu, chị Hạnh, Phương, Tư, những người bạn thân thiết của tôi, họ là những người công chính đi đấu tranh cho quyền lợi chung của tất cả chúng ta. Họ chưa về. Tất cả chúng ta đều đang mất tự do!”. Trong khi đó, tổ chức Nhà báo Không biên giới (RFS) như thường lệ, lại lên án bản án và “kêu gọi nhà cầm quyền Việt Nam trả tự do cho ông Hùng ngay lập tức”.

Ông Daniel Bastard, người phụ trách Châu Á-Thái Bình Dương của RSF sau khi đánh lận bản chất vụ án thì giả bộ: “Bản án gây sốc 5 năm tù của Lê Trọng Hùng một lần nữa cho thấy hệ thống tư pháp Việt Nam hoàn toàn thiếu độc lập”. Cùng việc “lên án” thì RSF cũng tìm cách ngợi ca, vẽ nên một “người hùng” Lê Trọng Hùng khi “thường xuyên đưa tin về các vụ việc tham nhũng và trưng dụng bất hợp pháp và cung cấp thông tin pháp lý để giúp đỡ các nạn nhân. Ông Hùng là nhà đồng sáng lập kênh CHTV thứ hai trở thành nạn nhân bị đàn áp ở Việt Nam”.

Về vụ án này, ngày 31/12/2021, TAND TP Hà Nội đã mở phiên tòa xét xử sơ thẩm và tuyên án phạt 5 năm tù đối với bị cáo Lê Trọng Hùng (tức Hùng “gàn”, SN 1979, trú tại phường Thanh Lương, quận Hai Bà Trưng, Hà Nội) về tội “Làm, tàng trữ, phát tán hoặc tuyên truyền thông tin, tài liệu, vật phẩm nhằm chống Nhà nước Cộng hòa XHCN Việt Nam” theo Điều 117, khoản 1, điểm a, b, c, Bộ luật Hình sự. Ngoài hình phạt tù, tòa còn tuyên phạt quản chế Lê Trọng Hùng 5 năm kể từ ngày chấp hành xong hình phạt tù.

Theo cáo trạng của VKSND Hà Nội, từ tháng 4/2020 đến tháng 9/2020, Lê Trọng Hùng đã tự làm, đăng tải phát trực tiếp 7 video clip lên mạng xã hội Facebook. Trong số đó, có 4 video clip chứa nội dung tuyên truyền thông tin xuyên tạc đường lối, chính sách của Nhà nước Cộng hòa XHCN Việt Nam, phỉ báng chính quyền nhân dân; tuyên truyền luận điệu chiến tranh tâm lý, phao tin bịa đặt, gây hoang mang trong nhân dân. Hành vi phạm tội của bị cáo là rõ ràng. Tuy nhiên, lấy cớ bị cáo không nhận tội, các thế lực chống phá Việt Nam tô vẽ, tung hô đối tượng, giống như từng tung hô cho “ứng viên giải thưởng nhân quyền”.

Bằng việc tung hô các đối tượng với danh hão như “nhà báo tự do”, “nhà hoạt động dân chủ, nhân quyền”, “tù nhân lương tâm”, “công dân yêu nước”..., thực chất là thủ đoạn để các thế lực thù địch hợp thức hóa việc cung cấp tiền bạc cho những kẻ được họ tiếp tay hoạt động chống Đảng, Nhà nước, nhân dân Việt Nam. Đồng thời, thông qua đó nhằm tiếp tục cổ súy, lôi kéo các đối tượng khác hoạt động phục vụ âm mưu chống phá. Cùng với việc rêu rao vi phạm nhân quyền, các đối tượng nhằm tạo sóng dư luận, gây sự chú ý từ quốc tế để bôi nhọ, xuyên tạc tình hình dân chủ, nhân quyền ở Việt Nam, qua đó lấy cớ để gây sức ép, can thiệp vào tình hình trong nước.

Điều này cũng diễn ra như đối với bị cáo Phạm Thị Đoan Trang hay các phạm nhân được “vinh danh” giải thưởng nhân quyền năm 2021 của Mạng lưới nhân quyền Việt Nam - VNHRN (Cấn Thị Thêu, Trịnh Bá Phương, Trịnh Bá Tư…). Được các đối tượng rêu rao, cổ suý, “tôn vinh” thì thực chất chỉ như những con rối, quân cờ, ra toà lĩnh án rồi chấp hành hình phạt nhưng bị kẻ địch bên ngoài mượn tên để điều khiển, vì động cơ chống phá đất nước.

Bởi vậy, chớ nên nghe xúi bẩy từ đâu mà nghĩ khác, làm khác để tự cho mình là “tù nhân lương tâm”, kiếm tìm ảo vọng ở trời Tây. Chẳng có “thiên đường” nào, chẳng có giải thưởng nào từ các thế lực chống phá bên ngoài giúp phạm nhân “đến với tự do, dân chủ”. Muốn trở về với tự do, dân chủ như công dân bình thường, điều trước mắt và quan trọng nhất là trót bước lạc đường thì nay chấp hành án trong trại giam thật tốt, hãy ăn năn hối cải, biết nhận ra lỗi lầm để cải tạo tiến bộ, sớm tìm lại con đường về với gia đình, sống có ý nghĩa trên đất nước, quê hương mình.

Nghĩ về những trường hợp lạc bước, sai đường, thật đáng trách khi có cả những người vốn có nhiều kinh nghiệm cuộc sống, có những cống hiến nhất định trong công tác trước đây. Như với Nguyễn Tường Thụy (sinh năm 1950 tại Nam Định) bị phạt tù về tội “Làm, tàng trữ, phát tán hoặc tuyên truyền thông tin, tài liệu vật phẩm nhằm chống Nhà nước Cộng hoà XHCN Việt Nam”, quy định tại Điều 117, Bộ luật Hình sự. Chấp hành án phạt tù trong trại giam, giờ Nguyễn Tường Thụy lại được tung hô “giải thưởng nhân quyền 2022”, thật khôi hài. Về bản chất vụ án, cáo trạng của VKS và quá trình xét xử tại phiên toà đã xác định rõ. Vấn đề là với người đọc trên mạng internet, cái tên Nguyễn Tường Thuỵ không phải xa lạ gì.

Nguyễn Tường Thụy cùng những cá nhân như Phạm Thành, Trần Đức Thạch vốn là “người quen” trên các trang viết chống phá Nhà nước, nhân dân. Một số bài viết trên trang mạng chống phá đã liệt kê những người này để quy rằng “Có một vài điểm chung của 3 nhà yêu nước, các ông đều thế hệ 5X”, từ đó nại lý do yêu nước nên “hành động theo bản năng”. Nhiều bài còn cổ suý với những câu từ xuyên tạc, xảo trá như: “Chính họ là những người hiểu hơn ai hết về chế độ cộng sản. Họ biết rõ ngày nào đất nước còn bị cai trị bởi một chế độ độc tài cộng sản thì người dân sẽ không bao giờ được hưởng các quyền căn bản của con người, và chủ quyền đất nước sẽ bị lâm nguy. Chính vì vậy mà họ đã hành động!”.

Trên mạng, ông Thụy tung ra các bài viết, các luận điệu đi ngược lại lợi ích quốc gia, dân tộc, câu kết với các tổ chức chống phá bên ngoài, gây bất ổn cho xã hội. Lẽ ra, với quá khứ ít nhiều có cống hiến, ông Nguyễn Tường Thụy phải là người hiểu phải làm gì cho phải đạo. Còn nhớ, tại Lễ kỷ niệm 130 năm Ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh, người xem buổi truyền hình trực tiếp thực sự xúc động trước phát biểu của ông Nguyễn Văn Đoàn, nguyên cận vệ Bác Hồ.

Ông Đoàn sinh năm 1947, hơn ông Thụy 5 tuổi. “Những tháng năm cùng đồng đội được phục vụ, bảo vệ Bác Hồ, cũng là ngần ấy thời gian với những kỷ niệm thiêng liêng của tôi về Người, là những trang đẹp nhất, may mắn và hạnh phúc nhất trong cuộc đời tôi” - ông Đoàn bày tỏ. Ông Nguyễn Văn Đoàn kể lại: Nhớ lại buổi đầu được nhận nhiệm vụ, ông cùng đồng đội được đồng chí Vũ Kỳ (thư ký riêng của Bác) và đồng chí Hoàng Hữu Kháng (Cục trưởng Cục 22 - Bộ Công an) ân cần căn dặn nhiều điều và nhấn mạnh: “Nhiệm vụ của các đồng chí là rất đặc biệt, trực tiếp bảo vệ Bác Hồ, rất vinh dự, nhưng cũng khó khăn, đòi hỏi sự nỗ lực và trách nhiệm cao...”.

Chúng tôi luôn tâm niệm: “Phải làm thật tốt, không được có sai sót, dù là nhỏ và nhất là không để Bác phiền lòng. Chúng tôi thật may mắn, hạnh phúc vì đã được phục vụ Bác Hồ, trong đó có những chuyến được theo Bác đi công tác, qua đó cảm nhận được tình cảm, nhân cách cao đẹp, cuộc đời giản dị,... của vị lãnh tụ đã dành trọn cuộc đời vì nước, vì dân”. Trước Lễ mít tinh, người cận vệ năm xưa xúc động chia sẻ: “Tôi luôn cố gắng phấn đấu thực hiện tốt lời Bác dạy. Hơn nữa, là một trong số ít người may mắn được lựa chọn vào làm cảnh vệ cho Bác Hồ, tôi luôn tự nhủ mình phải không ngừng rèn luyện, xứng đáng với sự tin cậy của cấp trên, xứng đáng với Bác và xứng đáng với truyền thống của những người con cố đô nghìn năm văn hiến”.

Cùng một thế hệ như ông Đoàn, cũng ở mảnh đất kinh kỳ, trải qua những năm tháng gian nan thử thách của đất nước do chiến tranh, rồi thời kỳ bao cấp đói khổ, vậy mà ông Thụy lại tự chuyển hoá, rẽ ngược lối, ngược đường, chống lại sự nghiệp phát triển đất nước, chống lại chính những tâm huyết của những người từng đồng cam cộng khổ. Giờ đây, đã trót sai bước, lạc đường nhưng lỗi lầm ấy vẫn có thể được cải sửa. “Đánh người chạy đi, không ai đánh người chạy lại”, luật pháp vẫn luôn mở rộng với người lầm lỗi để nhận thức, tu chỉnh lại, để cải tạo mà tìm đường về. Đường về ấy sẽ thật gần nếu đó là sự tu chỉnh, ăn năn.

Đường về ấy, có quê hương, có những người thân đang ngóng đợi và chẳng những đường về là sự bước về với chính bản thân mình mà còn là cái để cháu con, người thân nhìn vào đó không thấy ái ngại, không thấy xấu hổ.

Đường về ấy không có trong các mỹ từ mà những kẻ giảo hoạt đã, đang tung hô, không có sau cái gọi là “đấu tranh dũng cảm cho nhân quyền”, “giải thưởng nhân quyền”, “nhà hoạt động cải cách”…

Đường về ấy, lối đi ấy ngay dưới chân mình, hãy nhìn lại và hành động.

II - Chân tướng những kẻ giảo hoạt

 Với những mỹ từ đầy “hoa lá” và xảo trá như trên, nếu người đọc thiếu hiểu biết sẽ ngộ như đây là những “nhân vật anh hùng”, đấu tranh cho mục tiêu cao cả nào đó. Kỳ thực, tất cả đã bị đánh tráo một cách thô thiển, biến những kẻ phạm tội, làm hại đất nước thành “có công với nước”...

Giảo hoạt theo Từ điển Tiếng Việt nghĩa là những kẻ hay dối trá, gian xảo, lừa lọc người khác một cách khó lường, xảo quyệt. Những kẻ giảo hoạt lợi dụng lá bài nhân quyền để chống phá đất nước thường có nhiều mưu mô, xảo trá để đổi trắng thay đen, đánh tráo bản chất về vấn đề, sự việc, tình hình liên quan đến nhân quyền ở Việt Nam nhằm tạo ra hình ảnh xấu xa, tiêu cực để đánh lừa dư luận, lấy cớ chống phá, gây áp lực tới Đảng, Nhà nước Việt Nam. 

image001.png -0
Những hành động sai trái của tổ chức Mạng lưới nhân quyền Việt Nam.

Điển hình trong số này là Mạng lưới nhân quyền Việt Nam (VNHRN) có trụ sở ở Mỹ, tổ chức vừa trao giải thưởng nhân quyền 2022 cho Nguyễn Tường Thụy, Trần Đức Thạch và 5 đối tượng mà họ gọi là “Thành viên Liên minh Dân tộc Việt Nam tự quyết”. Tất cả những người này hiện đều đang thụ án tù giam ở Việt Nam. VNHRN coi những trường hợp này là dũng cảm “đấu tranh cho nhân quyền và dân chủ bằng chính cuộc sống của họ”! Khi “vinh danh” các đối tượng phạm tội, VNHRN đã dùng những mỹ từ đánh tráo bản chất để ca ngợi như: “Nhà báo Tường Thụy từng là một cộng tác viên của Đài Á châu Tự do (RFA), bị kết án tù hồi tháng 1/2021 cùng với các thành viên khác của Hội Nhà báo Độc lập Việt Nam, trong đó có blogger Phạm Chí Dũng của VOA.

Ông Thụy, từng làm đơn ứng cử Quốc hội Việt Nam khóa 14 với tư cách đại biểu độc lập, bị kết án 11 năm tù với tội danh “sản xuất, tàng trữ, phổ biến” tài liệu chống Nhà nước Việt Nam. Tuy nhiên, ông Thụy, 72 tuổi, luôn khẳng định mình vô tội và viết trong một bức thư gửi ra từ nhà tù rằng: “Người ta chỉ sống có một lần. Nếu cho làm lại, tôi vẫn làm như thế”!

Đoạn nói về Trần Đức Thạch, VNHRN mô tả: “Trước phiên phúc thẩm hồi tháng 3 năm ngoái, ông Thạch, 70 tuổi, nói rằng ông “xác định phiên tòa này là những nốt nhạc cuối của bản hùng ca, bi tráng của cuộc đời tôi” và rằng ông “rất tự hào vì được cùng anh chị em dấn thân cho sự nghiệp dân chủ của Việt Nam”! Tương tự là những mỹ từ có cánh với đối tượng Lưu Văn Vịnh mà VNHRN gọi là “nhà hoạt động” và cho rằng “ông Vịnh và các bạn của ông đã ý thức và hy sinh tranh đấu cho lý tưởng nhân quyền này cho dù phải chuốc lấy những năm tháng tù tội”!

VNHRN cũng tâng bốc cho các trò xảo trá của mình: “Dù thời gian tồn tại chưa đầy bốn tháng kể từ ngày công bố hoạt động nhưng Liên minh Dân tộc Việt Nam tự quyết đã chứng tỏ rằng quyền được tự do chọn lựa một thể chế chính trị mà mình muốn vẫn luôn là một khát vọng phổ quát của con người, đặc biệt là của người Việt Nam đang sống dưới ách độc tài chuyên chế cộng sản”!

Với những mỹ từ đầy “hoa lá” và xảo trá như trên, nếu người đọc thiếu hiểu biết sẽ ngộ như đây là những “nhân vật anh hùng”, đấu tranh cho mục tiêu cao cả nào đó. Kỳ thực, tất cả đã bị đánh tráo một cách thô thiển, biến những kẻ phạm tội, làm hại đất nước thành “có công với nước”!

Tháng 11/1997, một nhóm người Việt tại Mỹ tổ chức hoạt động về một “Hội nghị quốc tế” tại thành phố Santa Ana, quận Cam, bang California. Nhóm này công bố tổ chức và đến năm 2002 ra mắt chính thức ở Litte Sài Gòn (Mỹ) với tên viết tắt tiếng Anh VNHRN. Mục tiêu, cương lĩnh ghi là “khuyến khích, ủng hộ và đấu tranh dân chủ, nhân quyền cho Việt Nam”, “gia tăng có hiệu quả các hoạt động dân chủ, nhân quyền trên thế giới để thúc đẩy tiến trình cải tiến dân chủ, nhân quyền ở Việt Nam”.

Hàng năm, VNHRN đều có báo cáo về nhân quyền và lựa chọn một số đối tượng được gọi là “hoạt động nhân quyền” ở Việt Nam để “vinh danh”. Tổ chức này đã tìm mọi cách đánh bóng tên tuổi và móc nối với một số tổ chức thường xuyên có hoạt động chống phá Việt Nam như tổ chức Ân xá Quốc tế (AI), Nhà báo Không biên giới (RSF), Ủy ban Bảo vệ ký giả (CPJ)…

VNHRN cũng tích cực móc nối, gây dựng quan hệ với hàng chục nhóm, tổ chức người Việt ở nước ngoài như “Báo Tự do ngôn luận”, “Ủy ban Quốc tế tự do tôn giáo cho Việt Nam”, “Tiếng dân kêu cứu”, “Diễn đàn dân chủ”, “Tập hợp thanh niên dân chủ”, “Nhóm Thông luận”, “Đàn chim Việt”, “Mạng lưới Tuổi trẻ Việt Nam lên đường”, “Phong trào thống nhất dân tộc và xây dựng dân chủ”... Trong đó, có những nhóm liên hệ chặt chẽ với Việt Tân, đã bị Bộ Công an xác định là tổ chức khủng bố.

Số đối tượng được “vinh danh” năm 2022 gồm có Nguyễn Tường Thụy, Trần Đức Thạch, Lưu Văn Vịnh. Nguyễn Tường Thụy là một trong số 40 thành viên của tổ chức tự xưng Hội Nhà báo độc lập Việt Nam, với vị trí Phó Chủ tịch. Nguyễn Tường Thụy dùng nhiều bút danh để đăng tải bài viết lên trang facebook cá nhân, trang của Hội Nhà báo độc lập với nội dung xuyên tạc chủ trương, đường lối chính sách của Đảng và Nhà nước.

Ngày 5/1/2021, TAND TP Hồ Chí Minh tuyên án 11 năm tù giam về tội “Làm, tàng trữ, phát tán hoặc tuyên truyền thông tin, tài liệu, vật phẩm nhằm chống Nhà nước CHXHCN Việt Nam”. Còn Trần Đức Thạch (trú tại Nghệ An) đã soạn thảo, đăng tải nhiều bài viết có nội dung xuyên tạc các sự kiện kinh tế, chính trị, xã hội, bôi nhọ, xúc phạm lãnh đạo Đảng, Nhà nước, nhận hỗ trợ về tài chính của các cá nhân, tổ chức trong ngoài nước.

Ngày 24/3/2021, Thạch bị tòa tuyên phạt 12 năm tù giam về tội “Hoạt động nhằm lật đổ chính quyền nhân dân”. Lưu Văn Vịnh, trú tại quận Bình Tân (TP Hồ Chí Minh) đã có hoạt động nhằm lật đổ chính quyền nhân dân khi đứng ra lập tổ chức phản động “Liên minh dân tộc Việt Nam” do Vịnh làm Chủ tịch.

Với bảng “thành tích” chống phá nhiều năm của 3 đối tượng trên cho thấy bản chất của cái gọi là “Giải thưởng Nhân quyền 2022” mà VNHRN đưa ra là nhằm động cơ, mục đích gì? Gọi là “vinh danh giải thưởng” nhưng tất cả đều là những đối tượng đang thụ án trong các trại giam, hiển nhiên không thể trực tiếp đến nhận giải. Trước đó, bản danh sách cá nhân được trao giải cũng là những cái tên cộm cán trong hoạt động chống phá, bị phạt tù giam như: Nguyễn Văn Hải (blogger Điếu cày), Nguyễn Chính Kết, Trần Khải Thanh Thủy, Lê Thị Công Nhân, Cù Huy Hà Vũ, Tạ Phong Tần, Phạm Thị Đoan Trang, Nguyễn Năng Tĩnh, Lê Công Định, Nguyễn Ngọc Như Quỳnh, Nguyễn Bắc Truyển, Nguyễn Văn Đài… Thực chất của cái gọi là “giải thưởng Nhân quyền Việt Nam 2022” chỉ là một màn kịch cũ được soạn lại, đạo diễn làm mới cho có tính thời sự. Trong lần đại hội tháng 8/2021, VNHRN đưa ra 5 tuyên bố, trong đó cơ bản lặp lại nhiều nội dung cũ, đồng thời đưa ra thêm vấn đề có vẻ thời sự như “chống dịch COVID-19”.

Không khó để nhận ra mưu đồ thực chất của VNHRN, thông qua cái gọi là “giải thưởng Nhân quyền” để tự đánh bóng tên tuổi của tổ chức, cổ xúy cho các đối tượng hoạt động chống phá Việt Nam dưới danh nghĩa “nhà hoạt động nhân quyền”. Thông qua việc trao giải thưởng, VNHRN tiếp tục lôi kéo nhiều đối tượng cực đoan vào các hoạt động chống phá dưới các vỏ bọc như “nhà báo tự do”, “nhà hoạt động nhân quyền”, “nhà hoạt động xã hội”; đánh lừa dư luận quốc tế về đối xử thiếu nhân quyền trong tù với những “tù nhân lương tâm”, “nhà hoạt động dấn thân vì nhân quyền”… 

Cũng như các tổ chức AI, RSF, CPJ... mang danh nghĩa đẩy nhanh “tiến trình cải tiến dân chủ, nhân quyền ở Việt Nam” nhưng thực chất là công cụ trong chiến lược “diễn biến hòa bình” mà các thế lực thù địch sử dụng chống phá Đảng, Nhà nước Việt Nam.

Cùng với đó, tổ chức theo dõi nhân quyền (Human Rights Watch - HRW) trước nay vẫn tự cho mình quyền “điều tra và đưa ra ánh sáng các vi phạm nhân quyền”. Tuy nhiên, căn cứ vào hoạt động của HRW thì lâu nay tổ chức này đang đi lệch tôn chỉ, mục đích ban đầu và trở thành con rối đội lốt nhân quyền phục vụ mục đích, động cơ của chính họ. Ai cũng hiểu, nếu báo cáo, đánh giá mà dựa trên nhãn quan của những tổ chức như Human Rights Watch thì bất kỳ nơi đâu cũng chỉ là màu xám xịt khi mà kẻ giảo hoạt chỉ sử dụng lá bài nhân quyền để phục vụ ý đồ chính trị của họ mà thôi.

Đáng chú ý là những hoạt động, các báo cáo, giải thưởng, phúc trình… nêu trên lại nhận được sự hậu thuẫn của cơ quan ngoại giao một số nước, điển hình là Bộ Ngoại giao Mỹ, từ đó có những đánh giá sai lệch. Mới đây là việc Bộ Ngoại giao Mỹ đưa Việt Nam vào danh sách theo dõi đặc biệt về tự do tôn giáo. Ngày 15/12/2022, Phó phát ngôn Bộ Ngoại giao Phạm Thu Hằng nhấn mạnh: “Những nỗ lực và thành tựu của Việt Nam về bảo đảm quyền con người, bảo đảm tự do tín ngưỡng tôn giáo cho người dân đã được cộng đồng quốc tế thừa nhận rộng rãi. Việt Nam sẵn sàng trao đổi với Mỹ về các vấn đề hai bên cùng quan tâm trên tinh thần thẳng thắn, cởi mở, tôn trọng lẫn nhau, đóng góp vào thúc đẩy quan hệ Đối tác toàn diện giữa hai nước”.

I - Ngẫm chuyện con chim sẻ trong tay kẻ giảo hoạt

 Đã từ rất lâu, người ta nói về nhân quyền với tư cách một khái niệm có tính phổ quát toàn cầu và điều này đã được giải nghĩa, quy định trong nhiều văn bản luật pháp quốc tế cũng như quy định trong luật pháp của các quốc gia. Thế nhưng, nhân quyền vẫn bị hiểu sai lệch, bị bóp méo trong tư duy, quan điểm của không ít tổ chức, cá nhân và khi khái niệm đó bị “xô lệch” thì họ luôn tìm cớ để bôi vẽ lên đó những sắc màu xám xịt theo động cơ, ý đồ riêng.

Trong loạt bài viết này, chúng tôi muốn nói đến trò xảo trá, ngụy biện của những kẻ giảo hoạt vốn luôn lợi dụng lá bài nhân quyền để chống phá Việt Nam và sự cảnh tỉnh với những ai đang bị biến thành con rối trong tay kẻ xấu.

Có câu chuyện ngụ ngôn nói về kẻ giảo hoạt. Ý rằng, có một người tính cách rất gian manh, giảo hoạt đánh cược người khác rằng anh ta sẽ chứng minh được tượng thần Delphi là tượng giả. Đến ngày hẹn, kẻ giảo hoạt cầm con chim sẻ trong tay và giấu nó vào ống tay áo ở áo khoác ngoài. Gã ta bước vào, hỏi thần rằng thứ gã ta cầm trong tay còn sống hay đã chết. Dụng ý của gã là nếu thần nói đã chết, gã sẽ lập tức mang con chim sẻ đang sống ra, còn thần nói còn sống thì gã sẽ bóp chết chim sẻ rồi đưa ra. Nhưng vị thần đã kịp nhận ra quỷ kế của anh chàng đê tiện nên nói ngay: “Vật trong tay anh sống hay chết không phải phụ thuộc chính nó mà là ở cái ý đồ độc địa của anh”!

dd-1-5095.png -0
Việc tham gia vào Hội đồng Nhân quyền Liên hợp quốc khẳng định vị thế, uy tín quan trọng của Việt Nam.

Ngẫm chuyện ấy, thật thâm thúy. Khi kẻ nào có dụng ý xấu thì chuyện tốt của người khác cũng bị kẻ đó biến thành xấu cả, bất chấp thực tế có tốt đẹp như thế nào. Tồn tại khách quan không có ý nghĩa chứng minh trước động cơ, ý đồ của kẻ đó vốn chỉ nhằm bôi đen, miệt thị, đả phá. Rõ là, cái tâm xấu thì thế giới quan cũng theo đó mà nhuốm đen, vậy thì việc phải cải sửa không phải bắt đầu từ thay đổi hiện thực khách quan mà phải thay đổi cái tâm đen của những cá nhân, tổ chức như vậy.

Đã từ rất lâu, người ta nói về nhân quyền với tư cách một khái niệm có tính phổ quát toàn cầu và điều này đã được giải nghĩa và quy định trong nhiều văn bản luật pháp quốc tế, thông lệ quốc tế cũng như quy định trong luật pháp của các quốc gia. Thế nhưng, nhân quyền vẫn bị hiểu sai lệch, bị bóp méo trong tư duy, quan điểm của không ít tổ chức, cá nhân và khi khái niệm đó bị “xô lệch” thì họ luôn tìm cớ để bôi vẽ lên đó những sắc màu xám xịt theo động cơ, ý đồ riêng. Nhân quyền tự lâu trở thành lá bài hết sức lợi hại mà những người dùng nó để lên án, phê phán một quốc gia khác có thể xoay chuyển “tình hình nhân quyền” theo ý của mình, là một cái cớ để đánh lừa dư luận quốc tế, qua đó vẽ ra viễn cảnh nghiêm trọng để tìm cách can thiệp vào công việc nội bộ của nước khác.

Bởi lẽ đó, như thường lệ, một số nhận định, đánh giá sai lệch về tình hình nhân quyền tại Việt Nam vẫn luôn tái diễn, trong đó có những vấn đề mà họ gọi là “tù nhân lương tâm”, “đàn áp nhân quyền”, “bịt miệng nhà dân chủ”, “không có tự do ngôn luận”… Những dẫn chứng đưa ra vẫn xoay quanh điệp khúc cũ, trong đó điển hình là những đối tượng phạm pháp bị cơ quan chức năng truy cứu, xử phạt theo Bộ luật Hình sự vẫn được “mặc áo nhân quyền”...

Với màu sắc tư duy, đánh giá như vậy, sẽ không có gì phải bàn khi cái nền cũ vẫn bám rễ có tính định kiến. Nhưng dư luận thế giới đặt câu hỏi: Việt Nam hiện vị thế, vai trò đã khác khi từng là thành viên Hội đồng Nhân quyền Liên hợp quốc nhiệm kỳ 2014-2016, nay lại tiếp tục được bầu vào thành viên Hội đồng Nhân quyền Liên hợp quốc nhiệm kỳ 2023 - 2025, được đông đảo các nước tín nhiệm, vì sao các báo cáo, phúc trình vẫn tảng lờ, tiếp tục có những đánh giá lạc lõng?

Chính các quốc gia, tổ chức có vị thế trên thế giới đã thừa nhận và khẳng định sự tín nhiệm khi ủng hộ Việt Nam qua lá phiếu cũng như các ủng hộ tại phiên bảo vệ báo cáo quốc gia theo cơ chế kiểm điểm định kỳ phổ quát (UPR) của Hội đồng Nhân quyền Liên hợp quốc tại Geneva, Thụy Sĩ. Cần lưu ý rằng, trên nguyên tắc đối thoại, hợp tác, đối xử bình đẳng, khách quan, minh bạch, xây dựng, không đối đầu, không chọn lọc và chính trị hóa, UPR được đánh giá là cơ chế tiến bộ và tích cực. Tất cả các nước dù được coi là mạnh nhất, dù lớn tiếng nhất về nhân quyền thì vẫn phải chịu sự xem xét đánh giá, góp ý của những nước nhỏ. Điều đó cho phép những nhận định, đánh giá khách quan về quyền con người.

Khi hiện thực đã được thừa nhận và ủng hộ qua lá phiếu cũng như những đánh giá khách quan, không chỉ một khu vực mà có tính phổ quát toàn cầu thì hiện thực đó là thành tựu không chỉ có vai trò, vị trí với Việt Nam mà còn là thành tựu của tiến trình phấn đấu vì các mục tiêu nhân quyền của thế giới. Là thành viên Hội đồng Nhân quyền Liên hợp quốc, tiếng nói của Việt Nam không chỉ đại diện cho vị thế của nước mình mà có sức lan tỏa, ảnh hưởng tới nhiều quốc gia, vùng, lãnh thổ khác nhau. Vì thế những đánh giá về nhân quyền đối với thành viên của Hội đồng càng phải đảm bảo tính chuẩn xác, khách quan chứ không thể lặp lại điệp khúc cũ mòn như lâu nay.

“Việt Nam là một đối tác quan trọng của Liên Hợp quốc, đã có nhiều đóng góp thực chất và hiệu quả vào các hoạt động gìn giữ hòa bình của Liên Hợp quốc. Mối quan hệ tốt đẹp này cần được tăng cường hơn nữa trong thời gian tới để thúc đẩy hòa bình, sự phát triển bền vững và quyền con người trên thế giới” - đó là đánh giá mới nhất về Việt Nam của Tổng Thư ký Liên Hợp Quốc Antonio Guterres. Còn ông Jean Pierre Archambault, nguyên Tổng thư ký Hội Hữu nghị Pháp - Việt thì khẳng định, bảo đảm tốt quyền con người là một trong những thành tựu của công cuộc đổi mới ở Việt Nam, những kết quả đạt được trong lĩnh vực bảo đảm quyền con người của Việt Nam là không thể phủ nhận.

Minh chứng cho sự tín nhiệm khi Việt Nam là được Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN) tín cử là đại diện cho khối tham gia ứng cử Hội đồng Nhân quyền Liên hợp quốc nhiệm kỳ 2023-2025. Bởi theo bà Caitlin Wiesen, nguyên Trưởng Đại diện thường trú Chương trình Phát triển Liên hợp quốc (UNDP) tại Việt Nam, trong nhiều thành tựu, tiến bộ mà bà ấn tượng về Việt Nam so với các quốc gia trong khu vực chính là công cuộc xóa đói giảm nghèo cho người dân. Tình trạng nghèo cùng cực tại Việt Nam đã giảm từ tỷ lệ cao nhất khoảng 40% ở những năm 1990 xuống dưới 5% vào năm 2020. Đó chính là sự thay đổi phi thường. Trong 2 năm đại dịch vừa qua, bà Caitlin Wiesen cũng đánh giá rất cao những thành tựu mà chính phủ Việt Nam đạt được trong việc đảm bảo sự an toàn cho người dân, với phương châm “không để ai bị bỏ lại phía sau”.

Bà Caitlin Wiesen ghi nhận: “Chính phủ Việt Nam đã nhận được đánh giá cao của người dân và cộng đồng quốc tế vì đã chủ động dự báo được tình hình đại dịch, nhanh nhạy và thích ứng linh hoạt, hiệu quả trong việc kiểm soát được dịch bệnh COVID-19. Vai trò lãnh đạo mạnh mẽ, các biện pháp nhanh chóng và minh bạch với ưu tiên hàng đầu là an toàn của người dân được coi là những yếu tố then chốt củng cố niềm tin và sự ủng hộ của người dân với chính phủ và các nhà lãnh đạo”.

Còn với ông Hervé Conan - Giám đốc quốc gia Cơ quan Phát triển Pháp cho rằng, ông rất ấn tượng về những thành tựu của Việt Nam trong việc thúc đẩy bình đẳng giới. Theo ông, hình ảnh của người phụ nữ hiện nay hoàn toàn khác với hình ảnh cách đây 30 năm, vốn luôn gắn liền với công việc bếp núc và chăm lo nhà cửa. Chính phủ Việt Nam đã rất nỗ lực trong việc thúc đẩy bình đẳng giới và trao quyền cho phụ nữ. Việt Nam cũng cho thấy vai trò rất tích cực trong thúc đẩy bình đẳng giới trên thế giới khi là một trong những nước đầu tiên thông qua Công ước về cấm mọi hình thức phân biệt đối xử đối với phụ nữ cách đây hơn 40 năm và sau đó là Tuyên bố và Cương lĩnh hành động Bắc Kinh năm 1995. Trong khi đó, các thành viên Ủy ban Quyền trẻ em của Liên hợp quốc (CRC) cũng hoan nghênh những thành tựu của Việt Nam trong lĩnh vực đảm bảo các quyền trẻ em.

Nhiều chính trị gia và học giả quốc tế đã rất ấn tượng về những thành công mà Việt Nam đạt được sau hơn 30 năm đổi mới, đặc biệt là tấm gương thành công về phát triển kinh tế xã hội, quyền con người và hoàn thành trước hạn nhiều Mục tiêu phát triển Thiên nhiên kỷ (MDG). Theo Liên hợp quốc, chỉ số phát triển con người (HDI) ở Việt Nam liên tục tăng theo các năm và hiện lọt vào nhóm phát triển con người cao, xếp thứ 115/191 quốc gia và vùng lãnh thổ. Về khía cạnh quyền tự do Internet, ngôn luận, báo chí, sử dụng mạng xã hội, Việt Nam đang đứng top đầu thế giới.

Như We Are Social & Hootsuite đã thống kê về chỉ số tiếp cận Internet, Việt Nam có tới 150 triệu kết nối mobile, khoảng 70 triệu người dùng internet. Hạ tầng 3G/4G đã phủ sóng 99,8% dân cư và internet cáp quang đã tới 98% số phường, xã. Tự do báo chí được thể hiện cụ thể với việc cả nước có khoảng 800 cơ quan báo chí, hơn 100 báo có hoạt động báo điện tử, hơn 600 tạp chí, 25 cơ quan báo chí điện tử độc lập. Với việc Việt Nam ứng cử vào Hội đồng Nhân quyền Liên Hợp quốc lần thứ hai, Giáo sư James Borton, nghiên cứu viên cao cấp, Viện Chính sách đối ngoại, Đại học Johns Hopkins cho biết, điều này không chỉ làm sâu sắc thêm sự hội nhập vào hệ thống quốc tế mà còn đem đến cơ hội thúc đẩy hơn nữa quyền con người trong khu vực…

Chính khách, lãnh đạo các quốc gia, tổ chức quốc tế ghi nhận với hiện thực khách quan như vậy, thế mà những tổ chức, cá nhân chống phá Việt Nam vẫn tảng lờ, kiểu không nghe, không biết, không thấy. Những kẻ giảo hoạt này đã dùng thủ đoạn gì để rêu rao và hành động trái khoáy, phớt lờ sự thật như vậy?

NGÀY LỄ GIÁNG SINH VÀ BỨC TRANH TỰ DO TÍN NGƯỠNG TÔN GIÁO Ở VIỆT NAM

 Ngày Lễ Giáng sinh không có nguồn gốc từ Việt Nam, đó là ngày lễ của những người theo Kitô giáo như Công giáo, Tin lành. Từ khi được truyền vào Việt Nam đến nay, đạo Công giáo, Tin lành đã có những ảnh hưởng tới đời sống xã hội của người dân Việt Nam.
Các ngày lễ Công giáo như Giáng sinh, Phục sinh đã góp phần làm phong phú thêm đời sống tâm linh và sinh hoạt văn hoá của người dân. Thông qua sinh hoạt văn hoá tâm linh cộng đồng, người dân là những người theo đạo hay không theo đạo có dịp hiểu và đoàn kết nhau hơn.
Đây cũng là dịp để tăng cường khối đại đoàn kết dân tộc, thống nhất ý chí và nguyện vọng của người dân. Tuy nhiên, các thế lực thù địch và một số tổ chức thiếu thiện chí vẫn luôn tìm mọi cách chống phá, tuyên truyền những luận điêu sai trái, cho rằng Việt Nam không có tự do tôn giáo, xuyên tạc về tình hình, đời sống tôn giáo ở nước ta hòng tạo sự hoài nghi, phá hoại khối đoàn kết tôn giáo.

Những luận điệu sai trái
Trong 5 năm qua (2017-2022), Ủy ban Tự do tôn giáo quốc tế Mỹ vẫn định kỳ ra báo cáo thường niên về tự do tôn giáo toàn cầu. Họ cho mình quyền nhận xét, đánh giá phê phán về tình hình nhân quyền và tự do tôn giáo của Việt Nam và một số quốc gia khác. Họ sử dụng thông tin tài liệu cũ hoặc không chính thống từ các nhóm, phái tôn giáo chưa được nhà nước công nhận, số chức sắc cực đoan bất mãn với chế độ, định kiến với Đảng, Nhà nước để tiếp nhận thông tin sai lệch, đưa vào báo cáo đánh giá.
Một số tổ chức tìm cách khuyến khích, cổ vũ cho các hoạt động tôn giáo trái pháp luật, không cần xin phép, đăng ký chính quyền, thúc đẩy các hoạt động “tà đạo, đạo lạ” ở các vùng sâu, vùng xa, gia tăng hoạt động mê tín dị đoan, trái thuần phong mỹ tục, trái pháp luật, đi ngược lại lợi ích của Giáo hội và xã hội, gây bức xúc trong nhân dân, với âm mưu muốn giáo dân chống đối chính quyền. Họ kích động với luận điệu đây là quyền con người “quyền tự do tín ngưỡng, quyền tự do tôn giáo”; xuyên tạc Luật về tín ngưỡng, tôn giáo của Việt Nam, coi đó là “bước thụt lùi”, “bóp nghẹt tôn giáo” không phù hợp với công ước quốc tế về quyền con người… Họ kiến nghị Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ đưa Việt Nam trở lại những nước cần quan tâm đặc biệt về tôn giáo (CPC), “gây sức ép và hối thúc Việt Nam cho phép tất cả các nhóm, phái tôn giáo chưa được công nhận hoạt động một cách tự do; giảm can thiệp của chính quyền vào các công việc nội bộ của các nhóm tôn giáo đã được công nhận và nhấn mạnh tiến bộ về tự do tôn giáo có ý nghĩa quan trọng đối với việc cải thiện quan hệ song phương”…
Ngoại trưởng Mỹ Antony Blinken ngày 2/12 thông báo “đưa Việt Nam vào danh sách theo dõi đặc biệt về tự do tôn giáo”.
Thực tiễn trả lời cho những cáo buộc
Việt Nam là một quốc gia đa tôn giáo. Ở Việt Nam có những tôn giáo nội sinh (Phật giáo Hoà Hảo, Cao đài…) song hành cùng các tôn giáo du nhập từ bên ngoài (Công giáo, Phật giáo, Tin lành…). Các tôn giáo luôn luôn giữ mối đoàn kết và tôn trọng niềm tin tôn giáo lẫn nhau, đồng hành cùng dân tộc trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Theo thống kê chưa đầy đủ, Việt Nam có khoảng 95% dân số có đời sống tín ngưỡng và tôn giáo (trong hàng nghìn tín ngưỡng thì tín ngưỡng phổ biến là thờ cúng ông bà tổ tiên và tín ngưỡng thờ Mẫu). Tính đến nay, cả nước có khoảng 45.000 cơ sở tín ngưỡng, trong đó có hơn 2.900 di tích gắn với cơ sở tín ngưỡng, tôn giáo, một số di tích được UNESCO công nhận là di sản thế giới. Hằng năm, Việt Nam có gần 13.000 lễ hội, gồm 5 loại: lễ hội dân gian, lễ hội lịch sử cách mạng, lễ hội tôn giáo, lễ hội du nhập từ nước ngoài, lễ hội văn hóa - thể thao và ngành nghề.
Đến nay, Việt Nam có khoảng hơn 26,5 triệu tín đồ (chiếm 27% dân số), 43 tổ chức thuộc 16 tôn giáo được Nhà nước công nhận hoặc cấp chứng nhận đăng ký hoạt động. Cả nước hiện có hơn 57,4 ngàn chức sắc, trên 147 ngàn chức việc, hơn 29,6 ngàn cơ sở thờ tự. Số lượng tín đồ theo các tôn giáo hiện nay: Phật giáo 15,1 triệu; Công giáo 7,1 triệu; Cao đài 1,1 triệu; Tin lành 1 triệu; Hồi giáo 80.000; Phật giáo Hòa hảo 1,3 triệu, còn lại là các tôn giáo khác (Tịnh độ Cư sĩ Phật hội, Tứ ân Hiếu nghĩa, Bà La môn, Bửu Sơn Kỳ Hương, Minh sư đạo, Minh lý đạo…).
Thực tế đã chứng minh, ngay sau khi thành lập nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa, dù còn bộn bề công việc, ngày 3/9/1945, tại phiên họp của Chính phủ, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã quan tâm đến nhu cầu tự do tín ngưỡng, tôn giáo của một bộ phận đồng bào theo đạo. Người nói: “Tôi đề nghị Chính phủ tuyên bố tín ngưỡng tự do và lương - giáo đoàn kết”.
Ngày 14/6/1955, Người đã ký sắc lệnh 234/SL xác định “Việc tự do tín ngưỡng, tự do thờ cúng là quyền lợi của nhân dân. Chính phủ luôn tôn trọng và giúp đỡ nhân dân thực hiện. Chính quyền không can thiệp vào nội bộ các tôn giáo. Các tôn giáo phải tuân theo pháp luật của Nhà nước như mọi tổ chức khác của nhân dân. Việc bảo vệ tự do tín ngưỡng bắt buộc phải trừng trị những kẻ đội lốt tôn giáo gây rối loạn”. Người từng kêu gọi các tôn giáo hãy xóa bỏ hiềm khích, kỳ thị đoàn kết cùng toàn dân lo cho nền độc lập của nước nhà và lịch sử đã chứng minh, dù trong điều kiện khó khăn của đất nước nhưng chức sắc các tôn giáo, đồng bào có đạo giáo khẳng định rõ sự gắn bó đồng hành với dân tộc.
Ngày nay, ở khắp mọi miền của đất nước, đặc biệt là tại các thành phố, các trung tâm tôn giáo lớn như Hà Nội, Huế, TP Hồ Chí Minh, Hải Phòng, Nam Định, Ninh Bình, Tây Ninh, Cần Thơ…, các sinh hoạt tôn giáo diễn ra khá sôi nổi, đa dạng và phong phú. Hoạt động của các thiết chế tôn giáo đã có những đóng góp nhất định trong việc tập hợp và vận động quần chúng theo đạo - một lực lượng quan trọng trong khối đại đoàn kết dân tộc - tham gia vào công cuộc xây dựng và phát triển đất nước. Các ngày lễ trọng, các lễ nghi, lễ hội tôn giáo được tổ chức ngày càng trang nghiêm, quy mô hơn trước và thu hút ngày càng đông đảo tín đồ tham dự. Nhiều sinh hoạt tôn giáo đã trở thành sinh hoạt văn hoá cộng đồng được đông đảo tầng lớp nhân dân tham gia với tinh thần phấn khởi, yên tâm và tin tưởng. Các lễ hội như lễ Phật đản của Phật giáo, lễ Noel của Công giáo và đạo Tin lành, lễ kỷ niệm ngày khai đạo của đạo Cao Đài, Phật giáo Hoà Hảo, tháng ăn chay Ramadan của Hồi giáo… được tổ chức trọng thể, trang nghiêm và đảm bảo an ninh trật tự. Lễ hội của nhiều tôn giáo đều trở thành lễ hội chung vui của toàn dân tộc như lễ Noel, lễ hội La Vang.
Đặc biệt, lễ Phật đản của Phật giáo đã chính thức được UNESCO công nhận là một trong những lễ hội tôn giáo lớn của thế giới. Một số lễ hội mang tính thế tục được dư luận quan tâm đánh giá cao, như: Lễ cầu siêu cho những người đã hy sinh trong cuộc kháng chiến do Giáo hội Phật giáo Việt Nam tổ chức năm 2005; Đại hội hành hương La Vang lần thứ 27 kết hợp “Năm Thánh thể” với quy mô lớn do Hội đồng Giám mục Việt Nam tổ chức; Lễ kỷ niệm 50 năm ngày thành lập Hội thánh do Tổng hội Hội thánh Tin Lành Việt Nam (miền Bắc) tổ chức năm 2005…
Bên cạnh những giá trị đạo đức, các tôn giáo còn có hệ thống những lễ hội rất phong phú. Trước đây, việc tổ chức và tham gia lễ hội là công việc nội bộ giáo hội và tín đồ trong đạo. Ngày nay, rất nhiều lễ hội tôn giáo không còn là chuyện riêng của từng tôn giáo mà nó có sức lan toả, ảnh hưởng lớn trong cộng đồng xã hội như Lễ Giáng sinh, Phục sinh của đạo Công giáo, đạo Tin lành; Lễ Phật đản, Vu lan của Phật giáo; Đại lễ Hội Yến Diêu Trì Cung của Hội thánh Cao đài Tây Ninh…
Lễ Giáng sinh chỉ là 1 trong số 8 ngàn lễ hội tín ngưỡng, tôn giáo trong một năm ở Việt Nam. Thực tế không khí sinh hoạt tín ngưỡng, tôn giáo trong các tầng lớp nhân dân những năm qua ngày càng sôi động và có chiều hướng gia tăng. Cứ nhìn vào các lễ hội tôn giáo, các buổi lễ trọng của các tôn giáo và tín ngưỡng dân gian cũng có thể nhận rõ, những sinh hoạt này không chỉ là sinh hoạt tôn giáo, tín ngưỡng trong các cộng đồng của đồng bào có đạo mà còn đang trở thành ngày hội thu hút đông đảo người dân tham gia.
Ðiều đó cho thấy Ðảng và Nhà nước đã luôn tạo mọi điều kiện để nhân dân được tự do tham gia các hoạt động tôn giáo, tín ngưỡng. Việc đa dạng các hoạt động tôn giáo là minh chứng cho quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo ở Việt Nam đã và đang được bảo đảm. Không chỉ đối với đồng bào theo đạo Công giáo, quy mô và hoạt động tôn giáo của đồng bào theo các tôn giáo khác cũng ngày càng tăng và diễn ra sôi động, đời sống tâm linh của người dân luôn được chính quyền quan tâm.
Những thông tin, luận điệu sai lệch, xuyên tạc về tình hình tôn giáo ở Việt Nam mà các tổ chức thiếu thiện chí đưa ra tác động đến suy nghĩ, tình cảm của chức sắc tôn giáo và đồng bào có đạo, tạo sự hoài nghi về chính sách, pháp luật về tôn giáo của Đảng, Nhà nước ta. Vậy tiêu chí, tiêu chuẩn của Ủy ban Tự do tôn giáo Quốc tế Mỹ là gì? Họ đại diện cho ai để phê phán, đánh giá về tự do tôn giáo của Việt Nam, khi mà các phê phán của họ chỉ là sự lạc lõng, không được chức sắc tôn giáo đồng tình?
Thực tiễn đời sống tôn giáo đã chứng minh khối đại đoàn kết dân tộc, đoàn kết tôn giáo ở Việt Nam; khẳng định chính sách nhất quán của Đảng, Nhà nước ta là củng cố niềm tin của chức sắc tôn giáo, đồng bào có đạo với sự nghiệp xây dựng và phát triển đất nước.
Chiều 15/12, Phó phát ngôn Bộ Ngoại giao Phạm Thu Hằng khẳng định, Mỹ đưa Việt Nam vào danh sách cần theo dõi đặc biệt về tự do tôn giáo là dựa trên những đánh giá thiếu khách quan, cũng như thông tin không chính xác về tình hình tự do tôn giáo, tín ngưỡng tại Việt Nam. Chính sách nhất quán của Việt Nam là tôn trọng và bảo đảm quyền con người, cũng như quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của người dân, điều này đã được quy định trong Hiến pháp năm 2013, hệ thống pháp luật của Việt Nam và được bảo đảm tôn trọng trên thực tế.
Phó phát ngôn Phạm Thu Hằng nhấn mạnh: “Những nỗ lực và thành tựu của Việt Nam về bảo đảm quyền con người, bảo đảm tự do tín ngưỡng tôn giáo cho người dân đã được cộng đồng quốc tế thừa nhận rộng rãi. Việt Nam sẵn sàng trao đổi với Mỹ về các vấn đề hai bên cùng quan tâm trên tinh thần thẳng thắn, cởi mở, tôn trọng lẫn nhau, đóng góp vào thúc đẩy quan hệ Đối tác toàn diện giữa hai nước”.

CÁCH MẠNG TRẮNG – ÂM MƯU BIẾN VIỆT NAM THÀNH UCRAINA THỨ 2

 Henry Kissinger từng tuyên bố: “Những gì mà mấy chục năm nay nước Mỹ không làm được ở trên đất nước này, thì con cháu của các ngài, thế hệ trẻ Việt Nam trong tương lai, sẽ giúp nước Mỹ thực hiện được giấc mơ của người Mỹ. Hai mươi năm sau chúng tôi sẽ trở lại Việt Nam. Không phải với xe tăng, đại bác, chiến hạm hay pháo đài bay mà bằng xấp đô la.



Khi đó, cờ Mỹ sẽ bay không chỉ ở Sài Gòn mà còn hiên ngang giữa lòng Hà Nội. Những gì bom đạn không thể làm được thì sức mạnh của đồng đô la sẽ giải quyết. Người Việt Nam sẽ đón chúng ta như một ân nhân “.
Cho đến nay, quả thật những gì mà Mỹ đã tuyên bố, đang manh nha trở thành sự thật. Và không phải ngẫu nhiên mà người Mỹ lại tự tin tuyên bố như vậy.
Nước Mỹ có một sự kiên nhẫn vô hạn, có khi một chương trình được hoạch định tới 50 năm, như trường hợp nuôi dưỡng cả một thế hệ đối lập để lật đổ chính phủ hợp hiến ở Thổ Nhĩ Kỳ. Điển hình như sự kiện tên sát thủ trẻ len lỏi được thật sâu vào hàng ngũ cảnh sát đặc biệt Thổ Nhĩ Kỳ, rồi ám sát đại sứ Nga.
Nước Mỹ có một nguồn tiền của bao la. Với hệ thống tài chính Petro đô la đang nắm trong tay, Mỹ có thể in tiền một cách vô tội vạ mà không sợ lạm phát, và dùng nó để rải ra mọi chiến dịch trên khắp toàn cầu.
Đơn cử như trường hợp “nhỏ” là việc Mỹ bảo kê và tài trợ giáo sĩ Fethullah Gülen, kẻ chủ mưu vụ đảo chính ở Thổ Nhĩ Kỳ hồi năm 2016. Mỹ dự kiến xây khoảng 300 trường học ở Thổ Nhĩ Kỳ, hòng đào tạo lực lượng ước tính hơn 2 triệu học sinh, sinh viên. Tuy nhiên sau đảo chính, đã bị đóng cửa hết.
Sau đó, khi thời cơ chín muồi, một nhân tố như kiểu Gorbachev của Liên Xô là đủ để thay đổi một chính quyền theo chiều hướng tuân phục nước Mỹ.
Môi trường giáo dục là nơi đào tạo thế hệ kế cận sẽ lãnh đạo đất nước sau này, nên nắm được môi trường này sẽ chắc phần thắng. Tấn công vào môi trường giáo dục là một trong những mũi tấn công của những thế lực chống phá do phương Tây tài trợ.
Không phải ngẫu nhiên mà một bộ trưởng nước Nga từng phát biểu:
Chức năng cơ bản và chủ yếu của trường học là giáo dục trí tuệ và nhân cách con người, chứ không phải là dịch vụ giáo dục. Cần phải trả lại hoạt động giáo dục cho nhà nước quản lý, trở lại truyền thống giáo dục tốt đẹp thời Xô Viết.
Bộ trưởng quan trọng nhất trong chính phủ là Bộ trưởng Bộ Giáo dục. Một Bộ trưởng Bộ y tế tồi, cùng lắm chỉ gây khó khăn cho người dân khám chữa bệnh và ảnh hưởng tới sức khỏe. Bộ trưởng Bộ kinh tế tồi, cùng lắm là làm chậm sự phát triển kinh tế. Nhưng Bộ trưởng Bộ giáo dục tồi thì phá hoại cả tương lai của đất nước và của quốc gia.
Đã đến lúc phải chấm dứt các cuộc thí nghiệm giáo dục theo mô hình phương Tây đang tạo ra tình trạng hỗn loạn trong lĩnh vực này.
Rõ ràng nước Nga ngày nay và chúng ta có điểm tương đồng, áp dụng rập khuôn mô hình giáo dục theo kiểu phương Tây, xem đó là giá trị cốt lõi, dần dần lâu hơn nữa khi đạt tới trình độ nhất định, những người được đào tạo ra sẽ xem những giá trị lịch sử như Chủ nghĩa Xã hội là lỗi thời cần phải bị loại bỏ.
Chỉ cần 20 năm là có thể thay máu hoàn toàn thế hệ trẻ của đất nước, khi người ta không biết tới giá trị lịch sử, chắc chắn người ta cũng sẽ quên quá khứ của tương lai, Ucraina là một bài học không thể sinh động hơn. Chỉ sau một đến hai thế hệ tiếp thu các giá trị Tây Phương sau khi Liên Xô sụp đổ, giới trẻ Ucraina thậm chí còn tự tay giật đổ tượng Lê nin, người đã có công tạo ra nhà nước Xô Viết Ucraina trong quá khứ.
Hiện nay, nhiều giáo viên đang xem những giá trị phương Tây là cốt lõi, mô hình giáo dục Xã hội chủ nghĩa là cổ hủ lạc hậu.
Tất nhiên là họ phủ nhận những thành quả của cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc. Vậy thử hỏi những giáo viên như thế sẽ đào tạo ra những học sinh như thế nào?
Trong lĩnh vực Truyền thông cũng vậy, nhiều tờ báo me Tây tiếng Việt đã trở thành cánh tay nối dài đắc lực nối dài cho truyền thông Tây Phương. Họ đơn giản chỉ bê nguyên các bài báo Tây Phương về dịch, rồi in ra cho đọc giả đọc mà không biết rằng trong đó chứa đầy thông tin tâm lý chiến, xuyên tạc và bịa đặt.
Bên cạnh đó, liên minh đế quốc Mỹ và đế quốc thần quyền Tây Phương khác cũng đang ráo riết thực hiện chiến lược Ngụy sử, Lật Sử, và Tẩy trắng lịch sử, một phần trong cách mạng trắng và diễn biến hòa bình tại Việt Nam.
Có thể bạn còn nhớ, khi Obama sang thăm Việt Nam, nhiều người Việt đã coi ông ta như một thần tượng. Họ ca ngợi Obama như một lãnh đạo thân thiện.
Nhưng có thể bạn không biết rằng, người nhận giải Nobel hòa bình Obama chính là người đã gây ra 7 cuộc chiến dưới thời kỳ ông ta nắm quyền ở Mỹ.
Obama chịu trách nhiệm về cuộc chiến tranh dài nhất của Mỹ tại Apghanistan khi ông ta lên nắm quyền năm 2009.
Tháng 3/2011, Obama tuyên bố Mỹ sẽ tham gia một liên minh không kích vào Libya. Các cuộc không kích cuối cùng đã kết thúc với cái chết của nhà lãnh đạo lâu năm Moammar Gadhafi.
Và Lybia từ một trong các quốc gia giàu có thịnh vượng nhất Châu Phi, nay đã trở thành một vùng đất nghèo đói loạn lạc, nội chiến giữa các phe phái, và chưa thể tìm ra lối thoát.
Obama cũng là chủ mưu trong việc mua chuộc những kẻ biến chất thoái hóa trong các cơ quan báo chí, giáo dục Việt Nam, để phát động phong trào xét lại lịch sử, công nhận ngụy quyền Sài Gòn là chính danh, và tôn vinh những kẻ phản quốc như Nguyễn Ánh, Phan Thanh Giản, với chiêu bài “hòa hợp dân tộc”. Chúng cố tình một mặt bôi nhọ tính chính nghĩa trong cuộc chiến tranh vệ quốc vĩ đại của dân tộc Việt Nam, mặt khác chúng cố tình tung hô bản chất chế độ tay sai bán nước của Ngụy quân Ngụy Quyền. Thông qua chiến lược Ngụy Sử, Lật Sử và Tẩy trắng lịch sử, chúng công khai tuyên bố “Việt Nam đã đuổi đi 2 nền văn minh Pháp – Mỹ”, hay công khai kêu gọi bỏ từ Ngụy trong lịch sử.
Thực tế đây là một chiến dịch tẩy trắng lịch sử nhằm chạy tội cho giặc ngụy, rửa nhục cho Mỹ trong cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam, bằng một dự án quy mô lớn của cơ quan tình báo trung ương Mỹ CIA với tên gọi, “Dự án tưởng niệm chiến tranh Việt Nam”, do Obama phát động bởi 1 đạo luật, khởi động năm 2012. Dự án này chia 3 giai đoạn:
Giai đoạn 1 (2012-2014): Tổ chức các hoạt động tưởng niệm ở Mỹ.
Giai đoạn 2 (2014-2017): Xây dựng chân rết ở Mỹ và các quốc gia khắp Thế giới (tất nhiên Việt Nam là chính).
Giai đoạn 3 (2017-2025): Là giai đoạn cao điểm. Nội dung chính là nhằm tôn vinh lính Mỹ, lính ngụy; xoá bỏ “hội chứng Việt Nam”, sửa đổi lịch sử, tẩy xoá sự thật cuộc chiến ở Việt Nam
Tiền ngân sách ban đầu là 5 triệu đô/năm, sau nâng lên 180 triệu/13 năm nhưng thực tế số tiền còn lớn hơn nhiều so với dự án này.
Dự án Obama đang trong giai đoạn 3 như vậy và sẽ kết thúc vào năm 2025. Đó là lý do tại sao nhiều kẻ đang điên cuồng xuyên tạc lịch sử.
Thực ra, chế độ ngụy quyền Việt Nam Cộng Hòa là chế độ tay sai bán nước, do Mỹ lập ra để cai trị miền Nam Việt Nam giai đoạn 1954 – 1975. Hầu hết các thành phần lãnh đạo, tướng lĩnh của Ngụy quyền Việt Nam cộng hòa đều đã từng đứng dưới chế độ Ngụy quyền quốc gia Việt Nam do thực dân Pháp lập ra, học trong các trường quân sự của Pháp, và chiến đấu trong các chiến dịch chống lực lượng giải phóng dân tộc Việt Nam, đặc biệt là trong trận Điện Biên Phủ.
Chúng ta đừng bao giờ quên những lời người Mỹ nói: “Những gì bom đạn không thể làm được thì sức mạnh của đồng đô la sẽ giải quyết. Người Việt Nam sẽ đón chúng ta như những vị ân nhân”
Và đó là mục tiêu mà Mỹ không bao giờ từ bỏ, với việc đầu tiên là phải tẩy xóa sự thật cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam bằng những đồng USD giơ bẩn từ việc xuyên tạc sự thật lịch sử cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước vĩ đại của dân tộc ta.
Thông qua mạng Internet, trước đây là các trang Blog, Diễn đàn, Youtube và giờ tập trung chủ yếu là trên Facebook, chúng đã có nhiều bài viết xuyên tạc về lịch sử và tình hình xã hội của Việt Nam.
Khi thời cơ chín muồi, Mỹ sẽ tìm cớ để đưa quân đội quay lại Việt Nam, lập nên chính quyền bù nhìn tay sai của Mỹ như các nước ở khu vực Trung Đông hay Bắc Phi.
Các bạn thân mến
Không phải ngẫu nhiên mà các hành vi Ngụy sử, Lật Sử và Tẩy trắng lịch sử đã diễn ra một cách rầm rộ và công khai như hiện nay. Tất cả đều nằm trong chiến lược được các đế quốc thế quyền thần quyền Tây Phương vạch ra, với sự phản bội của một bộ phận người nói tiếng Việt ở trong nước.
Hơn lúc nào hết, mỗi người dân Việt Nam cần phải tỉnh táo, để tránh lập lại bài học như tại Ucraina hiện nay, nơi mà máu xương của lớp lớp các anh hùng liệt sĩ đã bị bôi nhọ và xúc phạm.
Tôi tin rằng, với sự anh linh của tiên tổ Lạc Hồng, nước Việt Nam sẽ ngày càng độc lập, hùng cường, và sẽ không một thế lực có thể ngăn cản được điều đó, kế hoạch thâm độc của các đế quốc thần quyền và thế quyền Tây Phương sẽ thất bại.
Một lần nữa tôi kêu gọi, con Rồng Cháu Tiên toàn thế giới hãy đoàn kết lại.

ĐÚNG LÀ HỌ KHÔNG TỰ NHẬN THỨC ĐƯỢC THÂN PHẬN LƯU VONG!

Ngày 03/02/1994, ngày chào mừng kỷ niệm 64 năm Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời (3/2/1930 - 3/2/1994), cựu Tổng thống Hoa Kỳ Bill Clinton công bố quyết định bãi bỏ lệnh cấm vận thương mại của Mỹ đối với Việt Nam đã tồn tại suốt 23 năm thì một nhóm người Việt chống cộng tại California phản đối quyết định này. Và các bạn có biết cựu Tổng thống Mỹ đã nói gì không?

Một phóng viên truyền hình CNN của Mỹ đã phỏng vấn ông về hiện tượng này, B.Clinton nói: "Họ đã bỏ chạy khỏi quê hương của họ bởi sự hèn nhát. Giờ đây họ lại muốn trả thù kẻ chiến thắng bằng cách hy sinh lợi ích của nước Mỹ. Có vẻ như họ không tự nhận thức được thân phận của họ!"
Hơn 25 năm quan hệ Việt - Mỹ đã có những bước tiến dài mang lại lợi ích cho cả nhân dân 2 nước nhưng nhưng kẻ chống cộng như Việt tân vẫn trơ trẽn, không tự nhận thức được thân phận của mình.
Lẽ ra họ không thấm thía câu nói của B.Clinton thì ít ra họ cũng phải biết được câu ngạn ngữ của người Tây Ban Nha đã nói gì chứ?!

Trung sĩ Công an cứu người đuối nước, lan tỏa điều tốt đẹp trong cuộc sống

  Trung sĩ Công an cứu người đuối nước, lan tỏa điều tốt đẹp trong cuộc sống      Phát hiện 2 cháu bé đang chấp chới giữa dòng nước, không q...