27/6/24

 Cuốn sách của tư duy, tầm nhìn và sự tâm huyết với sự nghiệp xây dựng và phát triển nền văn hóa, con người Việt Nam



Ðại hội XIII của Ðảng xác định rõ: Phát triển văn hóa là nền tảng tinh thần, khơi dậy mạnh mẽ tinh thần yêu nước, ý chí tự cường dân tộc, sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc và khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc. Bằng tư duy lý luận sắc bén, thực tiễn phong phú, sự am hiểu tường tận và tình cảm đặc biệt, đồng chí Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã có những chỉ đạo toàn diện về văn hóa thông qua cuốn sách "Xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc".
Cuốn sách gửi gắm những thông điệp sâu sắc của đồng chí Tổng Bí thư đối với đội ngũ trí thức, nhà khoa học, văn nghệ sĩ và những người làm công tác văn hóa. Những ý kiến của người đứng đầu Ðảng ta về văn hóa, văn học, nghệ thuật, báo chí, xuất bản thể hiện trong cuốn sách đã bao quát một cách hệ thống, đầy đủ, sáng tạo về những vấn đề căn cốt của từng lĩnh vực, có giá trị khơi gợi khát vọng sáng tạo, cống hiến của những chiến sĩ trên mặt trận văn hóa, tư tưởng của Ðảng.
Trải qua hàng nghìn năm lịch sử lao động sáng tạo, đấu tranh kiên cường để dựng nước và giữ nước, đồng thời tiếp thu thành tựu của văn hóa nhân loại, cộng đồng các dân tộc Việt Nam đã hình thành nên nền văn hóa Việt Nam với những giá trị độc đáo, phong phú và thống nhất trong đa dạng.
Trong dòng chảy của lịch sử, dưới sự lãnh đạo của Ðảng 94 năm qua, việc xây dựng và phát triển văn hóa, con người Việt Nam đã đạt được những thành tựu quan trọng, góp phần xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa, nâng cao tiềm lực, vị thế, uy tín của đất nước.
Sau gần 40 năm đổi mới, sự phát triển xã hội, văn hóa, con người đã đạt nhiều kết quả quan trọng. Ðội ngũ trí thức ngày càng tinh hoa và đông đảo chưa từng có trong lịch sử. Văn hóa ngày càng phát triển đa dạng về lĩnh vực, loại hình, sản phẩm, đáp ứng nhu cầu mới và mọi mặt của đời sống xã hội.
Tuy nhiên, việc thực hiện nhiệm vụ xây dựng, gìn giữ, phát huy văn hóa Việt Nam cũng còn tồn tại không ít bất cập, hạn chế, yếu kém, tác động tiêu cực đến phát triển kinh tế-xã hội, xây dựng con người và môi trường văn hóa. Trong bối cảnh cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư và xu thế toàn cầu hóa diễn ra mạnh mẽ, ảnh hưởng sâu rộng, tạo ra nhiều cơ hội và thách thức đan xen trong việc giữ gìn, phát huy các giá trị văn hóa truyền thống.
Triển khai thực hiện Nghị quyết Ðại hội XIII của Ðảng và chỉ đạo của đồng chí Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng tại Hội nghị Văn hóa toàn quốc ngày 24/11/2021, với quyết tâm lớn, nỗ lực bền bỉ của cả hệ thống chính trị, sự nghiệp xây dựng và phát triển văn hóa, con người Việt Nam đã có những bước chuyển biến quan trọng, từ nhận thức đến hiệu quả hành động. Những thành tựu lớn trong sự nghiệp xây dựng và phát triển văn hóa, con người Việt Nam những năm qua là thành quả của toàn Ðảng, toàn dân và toàn quân ta, trong đó nhân tố quan trọng nhất, có ý nghĩa quyết định là sự lãnh đạo trực tiếp, toàn diện của Ðảng, đứng đầu là đồng chí Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng.
Trải qua nhiều cương vị công tác, với những trọng trách được Ðảng, Nhà nước và nhân dân giao phó, đồng chí Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng luôn đặc biệt quan tâm, dành tâm huyết rất lớn cho sự nghiệp xây dựng và phát triển văn hóa, con người Việt Nam. Cuốn sách Xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc của đồng chí Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng ra mắt bạn đọc nhân dịp kỷ niệm 76 năm Ngày Bác Hồ ra Lời kêu gọi Thi đua ái quốc (11/6/1948 -11/6/2024), 99 năm Ngày Báo chí Cách mạng Việt Nam (21/6/1925 - 21/6/2024) có ý nghĩa rất quan trọng. Với 92 bài viết, bài phát biểu, bài nói, lược ghi, trả lời phỏng vấn, thư... của đồng chí Nguyễn Phú Trọng về xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam trong thời gian 60 năm qua được tuyển chọn trong cuốn sách đã hệ thống hóa sự lãnh đạo, chỉ đạo của Ðảng về xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, giúp các ngành, các cấp, các địa phương, cán bộ, đảng viên, nhân dân xác định rõ quan điểm, mục tiêu, định hướng, nhiệm vụ phát triển văn hóa, để văn hóa thật sự trở thành nền tảng tinh thần, động lực và nguồn lực nội sinh cho phát triển đất nước. Các bài phát biểu, bài viết thể hiện sự quan tâm sâu sắc của đồng chí Tổng Bí thư đối với việc xây dựng, giữ gìn và phát triển nền văn hóa Việt Nam với các yếu tố truyền thống và hiện đại, bản sắc và hội nhập, tạo nguồn lực nội sinh và huy động sức mạnh của văn hóa, con người Việt Nam trong công cuộc xây dựng và phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc, thịnh vượng.
Những điểm nhấn quan trọng trong cuốn sách Xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc được thể hiện cụ thể:
Thứ nhất, đồng chí Tổng Bí thư đã làm sáng tỏ những vấn đề lý luận và thực tiễn cốt lõi trong đường lối của Ðảng đối với sự nghiệp xây dựng và phát triển văn hóa, con người Việt Nam. Ðồng chí đã phân tích, kiến giải và chỉ đạo những nội dung quan trọng về đặc trưng, bản chất, vị trí, vai trò, mục tiêu, phương hướng, nhiệm vụ, giải pháp xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc; để phát huy vai trò của văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội, vừa là mục tiêu, vừa là động lực quan trọng để phát triển đất nước. Những tư tưởng, quan điểm chỉ đạo của đồng chí Tổng Bí thư trong cuốn sách được rút ra từ thực tiễn phong phú, khẳng định tầm nhìn xa, rộng, sự chỉ đạo sâu sát, toàn diện, đầy sức thuyết phục của đồng chí Tổng Bí thư; góp phần làm sáng rõ tư duy lý luận của Ðảng ta về văn hóa: Văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội, sức mạnh nội sinh, động lực phát triển đất nước và bảo vệ Tổ quốc; xác định phát triển văn hóa đồng bộ, hài hòa với tăng trưởng kinh tế và tiến bộ, công bằng xã hội là một định hướng căn bản của quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam. Nền văn hóa mà chúng ta xây dựng là nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, thống nhất trong đa dạng, dựa trên các giá trị tiến bộ, nhân văn; chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh giữ vai trò chủ đạo trong đời sống tinh thần xã hội, kế thừa và phát huy những giá trị truyền thống tốt đẹp của tất cả các dân tộc trong nước, tiếp thu những thành tựu, tinh hoa của văn hóa nhân loại, phấn đấu xây dựng một xã hội tiến bộ, văn minh, lành mạnh, vì lợi ích chân chính và phẩm giá con người… Con người giữ vị trí trung tâm trong chiến lược phát triển; phát triển văn hóa, xây dựng con người vừa là mục tiêu, vừa là động lực của công cuộc đổi mới.
Cuốn sách đã nâng tầm lý luận về xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc; là cuốn cẩm nang quý báu giúp các cấp ủy, tổ chức đảng, các ngành, các cấp, cán bộ, đảng viên nắm vững và triển khai có hiệu quả công tác xây dựng và phát triển văn hóa, con người Việt Nam trong thời gian tới.
Thứ hai, đồng chí Tổng Bí thư đã hệ thống một cách xuyên suốt và biện chứng về quá trình vận động, phát triển và những giá trị đặc sắc của nền văn hóa Việt Nam trong suốt chiều dài lịch sử dân tộc, nhất là trong thời đại Hồ Chí Minh. Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đúc rút những vấn đề có tính quy luật khách quan, có giá trị định hướng rất sâu sắc về đường hướng xây dựng và phát triển nền văn hóa dân tộc; trong đó trọng tâm là xây dựng hệ giá trị quốc gia, hệ giá trị văn hóa, hệ giá trị gia đình và chuẩn mực con người Việt Nam trong thời kỳ mới, đồng thời có những gợi ý rất quan trọng về các thành tố trong từng hệ giá trị. Hệ giá trị quốc gia: Hòa bình, thống nhất, độc lập, dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh, hạnh phúc. Hệ giá trị văn hóa: Dân tộc, dân chủ, nhân văn, khoa học. Hệ giá trị gia đình: Ấm no, hạnh phúc, tiến bộ, văn minh. Chuẩn mực con người Việt Nam thời kỳ mới: Yêu nước, đoàn kết, tự cường, nghĩa tình, trung thực, trách nhiệm, kỷ cương, sáng tạo... Ðây là những giá trị tốt đẹp, tiêu biểu, cốt lõi, được kế thừa và phát triển từ truyền thống dân tộc, trên nền tảng của chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh cũng như qua các kỳ Ðại hội của Ðảng. Việc xây dựng hệ giá trị quốc gia, hệ giá trị văn hóa, hệ giá trị gia đình và chuẩn mực con người Việt Nam thời kỳ mới chính là cách để chúng ta củng cố vững chắc trận địa tư tưởng, chấn hưng văn hóa, góp phần quan trọng để xây dựng sức mạnh mềm, sức mạnh nội sinh phát triển đất nước.
Có thể khẳng định, cuốn sách là một công trình có ý nghĩa đặc biệt, góp phần quan trọng làm rõ bản sắc, hoạch định đường hướng căn bản và lâu dài đối với nhiệm vụ xây dựng và phát triển văn hóa Việt Nam, góp phần xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.
Thứ ba, với kiến thức chuyên sâu và sự am hiểu về đặc trưng của từng loại hình văn hóa, từ văn học, sân khấu đến mỹ thuật nhiếp ảnh, thể dục thể thao, từ ca dao, dân ca đến ca trù, quan họ, từ những làn điệu chèo đến những câu hò ví dặm, hay đờn ca tài tử,... phản ánh bản sắc văn hóa của từng vùng, miền, địa phương trên cả nước như Thăng Long-Hà Nội, Bắc Ninh-Kinh Bắc đến Phú Thọ, Thái Bình, dân ca Trung Bộ, Tây Nguyên và Nam Bộ..., đồng chí Nguyễn Phú Trọng có những dẫn chứng rất sinh động và lập luận thuyết phục, định hướng vừa mang tầm chiến lược, bao quát, nhìn xa trông rộng, lại vừa rất cụ thể, gần gũi. Nói về vai trò của văn học, nghệ thuật - "tiếng nói của tình cảm" và các nhà văn - "người dự báo", "thư ký của thời đại", đồng chí chỉ rõ: "Mỗi tác phẩm văn học nghệ thuật thật sự có giá trị phải có sức lay động công chúng, độc giả bằng trách nhiệm, tấm lòng, trái tim của người nghệ sĩ"; "Sự nghiệp sáng tạo văn học đòi hỏi phải có những người có tài năng, có tâm hồn, có nhân cách, đặc biệt là có chỗ đứng và cách nhìn đúng đắn". Ðể hoàn thành nhiệm vụ của mình, nhà văn cần có "khát vọng lớn lao, lý tưởng cao cả, hòa nhịp đập trái tim mình với nhịp đập trái tim toàn dân tộc, lăn lộn với thực tiễn vĩ đại của cuộc sống nhân dân, chứ không phải chỉ đi vào tâm trạng cá nhân, gặm nhấm tâm tư, yếm thế, lấy tiểu xảo thay cho tài năng, nhìn đời bằng góc nhìn chật hẹp, thậm chí coi văn chương như là thú vui, giải trí hoặc một cuộc chơi, một đam mê tầm thường", làm cho người đọc sau khi gấp sách lại đều cảm thấy "mạch đời đập dưới bìa sách như mạch máu đập dưới làn da".
Với nghệ thuật sân khấu, đồng chí đề nghị cần "sáng tạo được nhiều vở diễn có giá trị về dân tộc Việt Nam, về con người Việt Nam đang dũng cảm vượt qua thử thách, đẩy nhanh tiến trình đổi mới, công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước", đồng thời sáng tạo, dàn dựng nhiều vở diễn về lịch sử, cách mạng, kháng chiến ở tầm cao mới, xứng đáng với sự tích hào hùng của dân tộc ta, nhân dân ta; bởi "cuộc sống đang rất cần những vở diễn mang hơi thở cuộc sống, mang tầm vóc của dân tộc và thời đại, thu hút và hấp dẫn được đông đảo người xem". Người nghệ sĩ sân khấu phải tự nguyện tham gia sự nghiệp cách mạng, thường xuyên bồi dưỡng cả về phẩm chất và tài năng - những nhân tố quyết định sự thành công trong hoạt động sáng tạo để đóng góp cho nhân dân, cho đất nước những tác phẩm hay.
Về vai trò của văn hóa, văn nghệ trong giáo dục, bồi dưỡng phẩm chất đạo đức, nhân cách con người, đồng chí Nguyễn Phú Trọng khẳng định: "Văn hóa đóng vai trò quan trọng trong việc giáo dục, bồi dưỡng phẩm chất, đạo đức, nhân cách con người, nâng cao bản lĩnh và ý thức dân tộc, giữ gìn bản sắc dân tộc, làm cho phát triển kinh tế thị trường mà không băng hoại giá trị đạo đức xã hội, "hội nhập mà không hòa tan". Ðể tạo điều kiện cho văn hóa phát triển, đồng chí khẳng định Ðảng, Nhà nước ta luôn khuyến khích, tạo điều kiện, có cơ chế đặc thù và tôn trọng tự do sáng tạo của người nghệ sĩ, song mỗi người nghệ sĩ cũng phải "vừa có bản lĩnh, sự tỉnh táo, vừa có trình độ, tầm nhìn, cách nghĩ và phương thức thể hiện mới trong sáng tạo nghệ thuật, phù hợp với yêu cầu thực tiễn". Chỉ khi có khát vọng và hoài bão lớn lao, tầm nhìn xa rộng và tư duy sâu sắc thì người nghệ sĩ mới có tác phẩm hay, có giá trị tư tưởng và nghệ thuật cao, những tác phẩm "phản ánh tâm hồn và tính cách dân tộc, những điều lớn lao, mạnh mẽ của con người và dự báo cho cả tương lai".
Với quan điểm: con người Việt Nam là sự kết tinh của văn hóa Việt Nam; xây dựng và phát triển văn hóa Việt Nam cũng chính là quá trình thực hiện chiến lược con người, trong đó giáo dục và đào tạo được coi là quốc sách hàng đầu, do vậy, đồng chí Nguyễn Phú Trọng luôn dành sự quan tâm đặc biệt tới sự nghiệp giáo dục và đào tạo. Trong các chuyến thăm, làm việc với các cơ quan quản lý giáo dục, cơ sở đào tạo, các học viện, trường đại học, cao đẳng, trường phổ thông,... đồng chí nhiều lần nhắc nhở: "Nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài là công việc vừa có tính chiến lược, vừa mang tính cấp bách của toàn Ðảng, toàn dân, trước hết là trách nhiệm của các nhà trường, của ngành giáo dục-đào tạo". Nhiệm vụ của giáo dục-đào tạo là "xây dựng con người Việt Nam phát triển toàn diện về trí tuệ, đạo đức, thể chất, năng lực sáng tạo, ý thức công dân,... làm cho văn hóa trở thành nhân tố thúc đẩy con người tự hoàn thiện nhân cách". Ðó chính là việc đào tạo "người có văn hóa", sống có nghĩa có tình, có trước có sau, có nhân cách, có bản lĩnh, có lòng yêu nước, thiết tha gắn bó với nhân dân, sẵn sàng đóng góp công sức, trí tuệ để xây dựng và bảo vệ đất nước. Luôn hy vọng vào tương lai thế hệ trẻ, đồng chí Nguyễn Phú Trọng nhắc nhở: "Cha ông đã để lại cho chúng ta một đất nước Việt Nam giang sơn vô cùng tươi đẹp. Trách nhiệm của các thế hệ hôm nay và mai sau là phải làm cho non sông nước Việt ngày càng giàu đẹp, hùng cường".
Kế thừa truyền thống "tôn sư trọng đạo" của người Việt Nam, mặc dù làm công việc gì, ở cương vị nào, cả khi đã là lãnh đạo Ðảng, Nhà nước, đồng chí Nguyễn Phú Trọng vẫn thường xuyên viết thư hỏi thăm sức khỏe các thầy, cô giáo cũ. Trong các bài phát biểu, bài viết, đồng chí Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng cũng rất quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo sâu sát đối với các cơ quan, đơn vị, tổ chức nghề nghiệp hoạt động trong lĩnh vực văn hóa, cán bộ làm công tác văn hóa. Ðồng chí luôn luôn nhấn mạnh phải chú ý phát huy tài năng, tâm huyết, động viên sự sáng tạo của đội ngũ trí thức, văn nghệ sĩ trong việc tham gia phát triển văn hóa, văn nghệ của đất nước; khuyến khích các tài năng trẻ và có hình thức tôn vinh xứng đáng các văn nghệ sĩ có công lao đối với sự nghiệp xây dựng và phát triển nền văn hóa. Văn hóa là sự nghiệp của Nhân dân, do vậy mỗi người dân phải tích cực tham gia, đóng góp vào việc sáng tạo nên những giá trị văn hóa vật chất, tinh thần, vun đắp cho nền văn hóa dân tộc ngày một hoàn thiện, cao đẹp hơn.
Ðồng chí Tổng Bí thư đánh giá cao vai trò, trách nhiệm và những đóng góp nổi bật của các địa phương, cơ quan, đơn vị; cán bộ, đảng viên và các tầng lớp Nhân dân trong việc giữ gìn, xây dựng và phát triển văn hóa, con người Việt Nam thông qua các hoạt động thiết thực như đẩy mạnh phong trào thi đua yêu nước; tổ chức các hoạt động văn hóa, xây dựng thiết chế văn hóa cơ sở; bảo tồn và phát huy di sản văn hóa; biểu dương những tấm gương điển hình trong việc thực hiện hiệu quả nội dung xây dựng và phát triển văn hóa, con người Việt Nam trong giai đoạn mới; kịp thời phê phán những biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, trái với thuần phong mỹ tục của dân tộc,...
Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng cũng rất chú trọng tới việc giữ vững và phát huy vai trò tiên phong của báo chí, xuất bản trên mặt trận văn hóa-tư tưởng của Ðảng, đóng góp vào công cuộc đổi mới, xây dựng đất nước. Ðồng chí Nguyễn Phú Trọng có quá trình công tác ở Tạp chí Cộng sản gần 30 năm, rèn luyện, trưởng thành từ một biên tập viên của Tạp chí, nên đồng chí hiểu rất rõ vai trò, nhiệm vụ của nghề báo và nhà báo: "Nghề báo thật sự là một nghề cao quý, một nghề có ích cho xã hội"; "Nhà báo trước hết phải hiểu đúng và nắm rất vững chức năng, nhiệm vụ của tờ báo mà mình phụng sự, cộng tác". Trực tiếp làm Tổng Biên tập Tạp chí Cộng sản - Cơ quan lý luận của Ðảng, tiếp đó là Ủy viên Bộ Chính trị phụ trách công tác tư tưởng-văn hóa và khoa giáo của Ðảng, là Phó Chủ tịch, rồi Chủ tịch Hội đồng Lý luận Trung ương, phụ trách công tác lý luận của Ðảng, đồng chí đã nhiều lần làm việc, nói chuyện, chia sẻ kinh nghiệm với cán bộ, biên tập viên các cơ quan báo chí chủ lực và các báo, tạp chí chuyên ngành. Ðồng chí đề nghị các cơ quan báo chí cần thực hiện tốt chức năng, nhiệm vụ là đội quân chủ lực, tiên phong trên mặt trận tư tưởng, "góp phần đắc lực vào việc hình thành dư luận xã hội lành mạnh; xây dựng bản lĩnh, trí tuệ, tâm hồn, khí phách con người Việt Nam trong thời kỳ mới; góp phần cổ vũ và tạo ra sức mạnh đoàn kết, thống nhất, đồng thuận toàn dân tộc". Với vốn kiến thức phong phú, sự am hiểu sâu sắc của một cử nhân Khoa Văn, Trường đại học Tổng hợp Hà Nội năm xưa, nay là Giáo sư, Tiến sĩ, Tổng Bí thư của Ðảng, có kinh nghiệm thực tiễn phong phú của một nhà báo, cùng với quá trình không ngừng tự học tập, tự rèn luyện, đồng chí chia sẻ: Mỗi phóng viên, biên tập viên, nhà báo phải có quyết tâm cao, có lòng say mê yêu nghề, chịu khó học tập, kiên trì rèn luyện "để vừa có phẩm chất chính trị vững, có đạo đức nghề nghiệp tốt, vừa có đủ trình độ, năng lực nghiên cứu và biên tập được, viết bài được", cần "cẩn trọng trong từng câu, từng chữ", luôn luôn chú trọng rèn luyện ngòi bút để "văn phong đĩnh đạc, trong sáng; lập luận chặt chẽ, rõ ràng, dẫn chứng sắc sảo, chính xác, có sức thuyết phục cao" thì mới có được bài báo hiệu quả nhất.
Ðối với ngành Xuất bản, In và Phát hành Việt Nam - một binh chủng quan trọng trên mặt trận văn hóa, tư tưởng của Ðảng, Tổng Bí thư yêu cầu phải "luôn luôn giữ vững định hướng chính trị, tư tưởng, bảo đảm hài hòa giữa nhiệm vụ chính trị và sản xuất, kinh doanh, phục hồi và phát triển mạnh mẽ văn hóa đọc; xây dựng đội ngũ cán bộ làm công tác xuất bản, in và phát hành sách có bản lĩnh chính trị vững vàng, đạo đức trong sáng; chuyên môn, nghiệp vụ giỏi, đáp ứng yêu cầu của thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa, phát triển và hội nhập quốc tế sâu rộng, góp phần khẳng định vị thế, vai trò là một trong những hoạt động tư tưởng sắc bén của Ðảng, Nhà nước và Nhân dân". Những bài viết, bài nói, bài phát biểu, thư... của đồng chí Nguyễn Phú Trọng trong cuốn sách cho thấy sự am hiểu sâu sắc, toàn diện về bản chất và đặc trưng văn hóa Việt Nam của người đứng đầu Ðảng ta.
Sự đồng tình hưởng ứng, tinh thần quyết tâm và sự vào cuộc nhanh chóng, đồng bộ, sáng tạo của các cấp, các ngành, các địa phương, cơ quan, đơn vị, đội ngũ trí thức, nhà khoa học, văn nghệ sĩ và các tầng lớp Nhân dân là minh chứng rất thuyết phục về vai trò, những đóng góp quan trọng và rất đặc biệt của đồng chí Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đối với sự nghiệp xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc.
Cuốn sách Xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc của đồng chí Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng ra mắt trong thời điểm hết sức quan trọng. Toàn Ðảng, toàn dân và toàn quân ta đã và đang nỗ lực, đồng lòng, tranh thủ mọi thời cơ, vượt qua mọi khó khăn, thách thức, quyết tâm thực hiện thắng lợi Nghị quyết Ðại hội XIII của Ðảng. Ðảng ta đang huy động sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị, phát huy trí tuệ của đội ngũ chuyên gia, nhà khoa học, trí thức, văn nghệ sĩ và các tầng lớp Nhân dân tham gia tổng kết lý luận và thực tiễn về công cuộc đổi mới đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa trong 40 năm qua ở Việt Nam; tổng kết 10 năm thực hiện Nghị quyết Trung ương 9 khóa XI về xây dựng và phát triển văn hóa, con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững đất nước; khẩn trương chuẩn bị tổ chức đại hội đảng bộ các cấp, tiến tới Ðại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Ðảng…
Cuốn sách Xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc là một đóng góp quan trọng của đồng chí Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng, góp phần hoàn thiện hệ thống lý luận và cơ sở thực tiễn xây dựng chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội của nước ta. Cuốn sách là minh chứng cho thấy bước trưởng thành, phát triển về tư duy lý luận và năng lực lãnh đạo thực tiễn của Ðảng ta đối với sự nghiệp xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc. Chúng ta tin tưởng sâu sắc, việc ra mắt cuốn sách, cùng với sự lãnh đạo sáng suốt của Ðảng, Nhà nước, sự vào cuộc đồng bộ, nhịp nhàng của cả hệ thống chính trị, sự đồng tình, ủng hộ của đội ngũ trí thức, của văn nghệ sĩ, các tầng lớp Nhân dân, sự nghiệp chấn hưng, xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc sẽ tiếp tục đạt được những thành tựu to lớn hơn nữa trong thời gian tới; trực tiếp góp phần xây dựng và phát triển đất nước ta phồn vinh, văn minh, hạnh phúc.
NGUYỄN TRỌNG NGHĨA,
Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương Ðảng, Trưởng ban Tuyên giáo Trung ương

Góc nhìn nghị trường: Làm "sống lại" hình ảnh dòng Tô Lịch trong xanh

Sáng 20-6, Quốc hội thảo luận tại hội trường về Quy hoạch Thủ đô Hà Nội thời kỳ 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2050 và Đồ án điều chỉnh Quy hoạch chung Thủ đô Hà Nội đến năm 2045, tầm nhìn đến năm 2065.
Trong Quy hoạch Thủ đô có một nội dung rất đáng lưu ý, đó là nhiệm vụ giải quyết triệt để ô nhiễm sông Tô Lịch, làm sống lại hình ảnh dòng sông xanh, sạch, gắn liền với văn hóa-lịch sử Thủ đô; xử lý ô nhiễm môi trường các sông: Nhuệ, Đáy, Lừ, Sét... để bảo đảm nguồn nước tưới an toàn cho nông nghiệp, tạo không gian xanh cho phát triển đô thị. Đây cũng là mục tiêu được Hà Nội nêu ra từ rất lâu, đã có nhiều giải pháp được đề ra và thực hiện, nhưng kết quả chưa được như kỳ vọng.
Trên thế giới từng có những thành phố làm hồi sinh những dòng sông, kênh đào chạy qua khu vực nội đô rất thành công mà chúng ta có thể tham khảo kinh nghiệm. Dự án làm sạch những con kênh ở Venice (Italy) vào năm 1956 là một ví dụ. Venice được mệnh danh là thành phố của các kênh đào đang thu hút lượng du khách quốc tế khổng lồ mỗi năm. Ít ai biết, cách đây khoảng 7 thập kỷ, những con kênh chằng chịt ở thành phố thơ mộng này từng đứng trước tình trạng mất vệ sinh nghiêm trọng. Năm 1956, một dự án quy mô rất lớn được ví như một cuộc cách mạng được triển khai. Các con kênh nơi đây được rút cạn nước để làm sạch lớp phù sa, chất thải tích tụ qua nhiều thế kỷ, lấy lại độ sâu và làn nước trong xanh. Đây được coi là sự kiện lịch sử của thành phố Venice. Nhờ vậy, Venice lại duyên dáng soi bóng trên những dòng kênh xanh mát, trở thành nguồn cảm hứng vô tận cho du khách trong và ngoài nước Italy.
Hà Nội cũng từng nổi tiếng với những dòng sông trong xanh, thơ mộng uốn quanh, nổi bật là sông Tô Lịch. Trải qua nhiều biến thiên, đoạn sông Tô Lịch nối với sông Hồng đã bị bồi lấp, dẫn tới sông Tô Lịch không còn được cấp nước từ sông Hồng, ngày càng trở nên ô nhiễm trầm trọng. Các con sông: Sét, Lừ, Đáy, Nhuệ cũng dần trở thành những dòng "sông chết". Muốn hồi sinh sông Tô Lịch và những dòng sông này, Hà Nội cũng sẽ phải triển khai dự án trên quy mô lớn để nạo vét hết lớp bùn đọng ô nhiễm ở đáy sông như đại dự án của Venice năm 1956, đồng thời phải dẫn dòng cấp nước từ sông Hồng cho các con sông này và xử lý nước thải sinh hoạt, nước thải sản xuất đồng bộ trước khi xả ra hệ thống sông.
Đây là việc rất khó, phức tạp và tốn kém, nhưng chúng ta buộc phải tiến hành để Hà Nội lại là mảnh đất của những dòng sông trong xanh, hiền hòa. Nó không chỉ có ý nghĩa về mặt văn hóa, lịch sử mà còn là nguồn động lực để thúc đẩy du lịch, kinh tế-xã hội Thủ đô phát triển.
Hy vọng, với Quy hoạch Thủ đô, tiến độ thực hiện mong ước hồi sinh sông Tô Lịch và các dòng sông cổ của Hà Nội sẽ được đẩy nhanh hơn và người dân Hà Nội sẽ lại cất cao câu ca: "Nước sông Tô vừa trong vừa mát...".

Việt Nam sẵn sàng trao đổi với Philippines tìm giải pháp trong vấn đề ranh giới ngoài thềm lục địa ở Biển Đông

Ngày 20-6, trả lời câu hỏi của phóng viên đề nghị cho biết quan điểm của Việt Nam về việc Philippines vừa đệ trình Báo cáo ranh giới ngoài thềm lục địa ở Biển Đông lên Ủy ban Ranh giới thềm lục địa của Liên hợp quốc, Người phát ngôn Bộ Ngoại giao Việt Nam Phạm Thu Hằng nêu rõ:
Các quốc gia ven biển thành viên của Công ước Liên hợp quốc về Luật Biển (UNCLOS) năm 1982 có quyền xác định ranh giới ngoài thềm lục địa mở rộng của mình trên cơ sở phù hợp với các quy định liên quan của UNCLOS 1982. Tuy nhiên, quốc gia ven biển khi đệ trình ranh giới ngoài thềm lục địa cần tôn trọng các quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của các quốc gia ven biển liên quan khác có bờ biển đối diện hoặc tiếp liền.
Theo đó, Việt Nam bảo lưu toàn bộ quyền và lợi ích của mình theo luật pháp quốc tế, đặc biệt là UNCLOS 1982 và sẵn sàng trao đổi với Philippines để tìm kiếm và đi đến giải pháp phù hợp với lợi ích của cả hai nước.
Nhân dịp này, Việt Nam một lần nữa khẳng định chủ quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa phù hợp với luật pháp quốc tế và các quyền hợp pháp đối với các vùng biển của Việt Nam, được xác lập phù hợp với UNCLOS 1982.

Báo chí cần gì?

Đó là câu hỏi “nóng”, là trăn trở lớn và thường trực không chỉ đối với những người làm báo, kể từ khi báo chí phải đối diện với rất nhiều khó khăn, thách thức do sự bùng nổ thông tin mạng xã hội, đồng thời nhiều cơ quan báo chí phải lo tự chủ về tài chính (toàn bộ hoặc một phần).

Sự thật là rất nhiều thông tin báo chí bị chậm hơn mạng xã hội; nhiều thông tin trên mạng xã hội hấp dẫn người đọc, người xem, nhưng báo chí chính thống không đăng do cơ quan chức năng không cung cấp, hoặc thông tin “nhạy cảm” chưa được cấp có thẩm quyền cho phép. Hệ lụy nguy hiểm là người dân xem thông tin trên mạng xã hội ngày càng nhiều, báo chính thống nguy cơ mất vai trò định hướng dư luận.
Điều đáng báo động thứ hai là do phải tự chủ về tài chính nên không ít cơ quan báo chí và nhà báo mải lo làm kinh tế để bảo đảm đời sống; ít quan tâm đến chất lượng tin, bài. Thậm chí, để có nhiều hợp đồng truyền thông-quảng cáo và để “câu view, câu like”, có báo đưa thông tin sai, thông tin chưa được kiểm chứng, rút tít giật gân không đúng bản chất sự việc; còn có nhà báo, tòa báo đưa tin “bẩn”, dọa dẫm... để “ăn tiền”, khiến uy tín của báo chí suy giảm.
Hai lý do cơ bản trên làm cho báo chí ngày càng khó khăn. Thực tế cho thấy không mấy người trẻ có trình độ, năng lực giỏi mặn mà, tâm huyết với nghề báo. Đây là điều rất đáng báo động!
Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định: Báo chí là một mặt trận. Cán bộ báo chí là chiến sĩ cách mạng. Cây bút là vũ khí sắc bén, bài báo là tờ hịch cách mạng... Chính Bác Hồ và nhiều đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước, Quân đội đã trực tiếp viết báo và tổ chức làm báo, thông qua báo chí để tuyên truyền, vận động, tổ chức quần chúng làm cách mạng.
Sinh thời, Tổng Bí thư Trường Chinh (từng trực tiếp phụ trách, chỉ đạo Báo Cờ giải phóng, Báo Sự thật, Báo Nhân Dân) đã nhấn mạnh: "Đảng, Nhà nước, nhân dân còn nghèo, song với các cơ quan báo chí, Đảng, Nhà nước sẽ không tiết kiệm ở chỗ này. Bởi vì sản phẩm của các đồng chí là tiếng nói của Đảng, của Nhà nước, diễn đàn của nhân dân, nó có tác động rất rộng lớn không gì thay được, nó còn là tài liệu lưu trữ lâu dài, cho nên những người có tính hời hợt đại khái, thiếu trách nhiệm thì không nên để làm việc trong các cơ quan báo chí"...
Soi vào thực tiễn báo chí hiện nay, khi những thông tin nhiễu loạn từ internet, mạng xã hội tràn lan, đặc biệt là thông tin chống phá sự nghiệp cách mạng đang từng giờ, từng phút tấn công làm cho nhân dân hoang mang, dao động thì chúng ta không khỏi giật mình, lo ngại!
Cần phải làm gì để báo chí giữ vững vai trò cung cấp thông tin chính thống, định hướng dư luận, góp phần xây dựng và bảo vệ Tổ quốc?
Hơn lúc nào hết, báo chí cần được các cơ quan chức năng chủ động cung cấp thông tin kịp thời; cần đổi mới mạnh mẽ cách truyền tải thông tin sao cho sinh động, hấp dẫn để không bị thua mạng xã hội.
Các cơ quan báo chí rất cần được đầu tư ngân sách để không phải “tự bơi”, đừng để nỗi lo “cơm áo” chiếm hết tâm can làm cho nhà báo "bẻ cong ngòi bút", đồng thời khó thu hút nhân lực chất lượng cao.
Báo chí cần được tạo cơ chế, chính sách thuận lợi, nhất là cần thay đổi tư duy quản lý, loại bỏ tư tưởng nông cạn và ấu trĩ coi báo chí chỉ là lực lượng thứ yếu, là bộ phận phục vụ và khắc phục xu hướng thương mại hóa báo chí. Vì thực tế ngày càng cho thấy, đây chính là “binh chủng đặc biệt”, có vai trò quyết định đến thành-bại của cách mạng.
Mọi sức mạnh vật chất cũng sẽ dẫn đến thất bại nếu đánh mất trận địa tinh thần. Chân lý này cần được quán triệt sâu sắc, đặc biệt là trong bối cảnh nhiễu loạn của “ma trận thông tin”!

Báo chí góp phần xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc

Kỷ niệm 99 năm Ngày báo chí cách mạng Việt Nam (21-6-1925 - 21-6-2024), chúng ta có dịp điểm qua chặng đường “Báo chí góp phần xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiến tiến, đậm đà bản sắc dân tộc”.
Thực tiễn đã chứng minh, dưới sự lãnh đạo của Đảng, Báo chí cách mạng Việt Nam đồng hành cùng dân tộc, đóng vai trò xung kích trên mặt trận văn hóa - tư tưởng, góp phần rất lớn trong việc định hình và lan tỏa chuẩn mực văn hóa ứng xử trong xã hội. Qua đó, báo chí đã góp phần xây dựng và phát triển văn hóa, con người mới theo các nội dung cơ bản trong Nghị quyết Trung ương 5 (Khóa VIII) năm 1998 của Đảng về “Xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc”; Nghị quyết số 23-NQ/TW của Bộ Chính trị (Khóa X) năm 2008 về “Tiếp tục xây dựng và phát triển văn học, nghệ thuật trong thời kỳ mới”; và Nghị quyết số 33-NQ/TW của Ban Chấp hành Trung ương khóa XI năm 2014 về “Xây dựng và phát triển văn hóa, con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững đất nước”.
Thời gian qua, các cơ quan báo chí thường xuyên đổi mới nội dung, tăng thời lượng, mở mới các chuyên trang, chuyên mục, xây dựng các chương trình đề cao tính tư tưởng, nhân văn, ca ngợi các giá trị văn hóa truyền thống, tôn vinh những cá nhân, tập thể có ý thức và hành động cụ thể trong việc quảng bá, gìn giữ, phổ biến các vẻ đẹp văn hóa Việt. Diện phủ sóng các chương trình phát thanh, truyền hình ngày càng được mở rộng, số lượng các chương trình văn hóa, văn nghệ được phát sóng trực tiếp, thời lượng phim Việt trên sóng ngày càng nhiều.
Nhiều chương trình sân khấu, thi tài năng văn nghệ, tìm hiểu văn học, nghệ thuật được báo chí quan tâm sản xuất, thu hút được sự quan tâm của công chúng như: Đường đến danh ca vọng cổ, Tạp dề tí hon, Hát cùng mẹ yêu, Chuông vàng vọng cổ...
Các cơ quan báo chí cũng tổ chức các tuyến tin, bài kịp thời đấu tranh, phản bác các luận điệu sai trái của các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị nhằm chống phá Đảng và Nhà nước, trong đó có các luận điệu xuyên tạc, bịa đặt trên lĩnh vực văn hóa, tư tưởng.
Để phát huy hơn nữa vai trò của báo chí trong việc xây dựng và phát triển văn hóa, con người mới, các cơ quan chỉ đạo, quản lý về văn hóa đã tăng cường sự chỉ đạo, định hướng và cung cấp thông tin để báo chí kịp thời thông tin, tuyên truyền nhằm nâng cao nhận thức, trách nhiệm và hành động của các ngành, các cấp và của người dân. Đồng thời, đã có sự phối hợp chặt chẽ giữa cơ quan chỉ đạo, quản lý về văn hóa với cơ quan chỉ đạo, quản lý về báo chí trong việc định hướng và quản lý thông tin báo chí, truyền thông về văn hóa, hướng đến mục tiêu khơi dậy khát vọng và phát huy mạnh mẽ giá trị văn hóa, con người Việt Nam.
Trong bối cảnh phát triển của các phương tiện truyền thông đại chúng, đặc biệt là Internet, các cơ quan chức năng bước đầu phối hợp chặt chẽ với Bộ Thông tin và Truyền thông để kiểm soát và xử lý thông tin trên không gian mạng, góp phần bảo vệ chủ quyền trên không gian mạng.
Đất nước đang trong giai đoạn phát triển mới với tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế ngày càng cao, đòi hỏi phải phát huy mạnh mẽ sức mạnh của văn hóa, con người Việt Nam. Văn hóa đóng vai trò là nền tảng tinh thần xã hội, “soi đường cho Quân dân đi”, là một trụ cột quan trọng trong phát triển bền vững mà nghệ thuật là lĩnh vực rất quan trọng, thể hiện khát vọng chân, thiện, mỹ của con người. Nghệ thuật không chỉ là nhu cầu thiết yếu mà còn là một động lực to lớn góp phần xây dựng nền tảng tinh thần của xã hội và sự phát triển toàn diện của con người Việt Nam.
Bối cảnh mới đòi hỏi các lĩnh vực hoạt động nghệ thuật phải phát huy giá trị tốt đẹp của văn hóa con người Việt Nam, bồi đắp phẩm chất công dân trong thời đại mới, khơi dậy tinh thần lạc quan, niềm say mê lao động, trách nhiệm, kỷ luật, sáng tạo; nêu cao niềm tự hào dân tộc, tinh thần đại đoàn kết, ý chí tự lực, tự cường và khát vọng phát triển đất nước Việt Nam ngày càng giàu mạnh. Đội ngũ hoạt động văn hóa nghệ thuật phải không ngừng đổi mới sáng tạo, tìm tòi các phương thức biểu đạt mới phù hợp với văn hóa Việt Nam, vươn tầm khu vực và thế giới, tạo ra nhiều tác phẩm hay, truyền tải những giá trị nhân văn, tốt đẹp, đáp ứng nhu cầu hưởng thụ văn hóa ngày càng cao của nhân dân.
Đảng và Nhà nước ta luôn khẳng định: “Tài năng văn học, nghệ thuật là vốn quý của dân tộc”. Việc chăm lo, phát hiện, bồi dưỡng và phát huy các tài năng văn học, nghệ thuật là trách nhiệm của toàn xã hội, trước hết là của Đảng, Nhà nước và các tổ chức trong hệ thống chính trị. Các cơ quan, tổ chức, bộ, ngành và địa phương cần tiếp tục nhận thức sâu sắc về vai trò của văn hóa nghệ thuật và các nghệ sĩ, tiếp tục quan tâm, động viên, khích lệ đội ngũ hoạt động văn hóa nghệ thuật phát huy tài năng, sáng tạo nghệ thuật, cống hiến cho sự nghiệp phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc.
Đồng thời, cần có chính sách phù hợp để chăm lo các nghệ sĩ, đảm bảo để họ có thể sống được bằng nghề. Việc bồi dưỡng tài năng trẻ, nhất là ở các lĩnh vực nghệ thuật truyền thống đang thiếu hụt lớp kế cận, cũng cần được chú trọng. Tôn trọng đặc trưng sáng tạo nghệ thuật, tự do sáng tạo của nghệ sĩ, thúc đẩy một đời sống dân chủ lành mạnh. Khuyến khích nghệ sĩ thâm nhập thực tế, khám phá, khai thác các giá trị, vẻ đẹp của đất nước, con người Việt Nam, đưa nghệ thuật truyền thống tiến cùng thời đại.
Báo chí cần tích cực đấu tranh chống tiêu cực, tham nhũng, lãng phí, quan liêu, cửa quyền để đẩy lùi những cái xấu, cái ác, làm cho xã hội lành mạnh, tốt đẹp hơn. Việc này cũng nhằm xây dựng nền văn hóa dân tộc, dân chủ, nhân văn và khoa học, đáp ứng yêu cầu phát triển và hội nhập của đất nước.
Những đóng góp của báo chí không chỉ làm giàu thêm nền văn hóa Việt Nam mà còn giúp xã hội hiểu sâu sắc hơn về giá trị và tầm quan trọng của văn hóa trong sự phát triển bền vững của đất nước. Thông qua các chương trình, bài viết, phóng sự và hoạt động truyền thông, báo chí đã và đang khẳng định vai trò tiên phong trong việc bảo tồn, phát huy và phát triển văn hóa Việt Nam.
Chưa bao giờ sức ép của xu thế toàn cầu hóa, khu vực hóa được sự hỗ trợ của công nghệ 4.0 tác động vào nền văn hóa dân tộc lại mạnh mẽ, toàn diện và sâu sắc như hiện nay. Sự đầu tư trực tiếp, gián tiếp của các công ty đa quốc gia và xuyên lục địa, sự giao lưu thương mại và dịch vụ với khối lượng hàng hóa khổng lồ, sự tăng cường dịch vụ du lịch, giải trí, sự mở rộng hệ thống thông tin trên hệ thống Internet... đã làm “tan băng” ở các quốc gia “đóng” và “sốt” lên ở những quốc gia “mở”. Ranh giới địa lý - biên giới hữu hình không cản nổi sự “xâm thực” của các trào lưu văn hóa xa lạ trên khắp thế giới. Sự phát triển của khoa học công nghệ vừa tạo thời cơ lớn, đồng thời đặt ra những thách thức lớn đối với Việt Nam. Theo đó, việc tiếp thu những điều tốt, điểm tương đồng, giá trị tích cực phải đi liền với không ngừng tỉnh táo phòng ngừa, loại trừ những cái xấu, dở, không phù hợp. Chủ động, mạnh dạn tiếp thu, tiếp nhận, tiếp biến, giao thoa phải đi liền với tinh tường, bản lĩnh, cảnh giác tránh “vơ bèo vạt tép”, “ham thanh chuộng lạ” một cách mù quáng; không đánh mất mình, “hòa tan” bản sắc của mình. Báo chí là phương tiện hữu hiệu, góp phần đưa văn hóa Việt Nam ra thế giới và tiếp biến văn hóa thế giới vào Việt Nam không chỉ nhằm góp phần quảng bá, nâng cao hình ảnh, vị thế đất nước mà còn là nhằm hiện thực hóa phương châm: văn hóa là động lực, là nhân tố quan trọng góp phần thúc đẩy sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa, đưa đất nước tiến nhanh tới mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh.
Trong xu thế cả xã hội đang thực hiện chuyển đổi số, Tạp chí điện tử Văn hóa và Phát triển (vanhoavaphattrien. vn) là một trong những tạp chí chuyên ngành của Viện Nghiên cứu Văn hóa và Phát triển cũng không thể nằm ngoài cuộc khi có sự chuyển dịch phương thức tiếp cận thông tin của người đọc, nghe, xem từ “bị động” sang “chủ động”, nhất là qua phương tiện điện thoại thông minh. Thực tiễn đó, đòi hỏi Tạp chí tổ chức, vận hành, quản lý hoạt động theo mô hình mới tiện dụng (đa nền tảng, tăng tính tương tác...) để có thể đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của bạn đọc và công chúng, tạo ra sản phẩm thông tin văn hóa phong phú theo hướng “Nhanh, Đúng, Trúng, Hấp dẫn”.
Trên tinh thần đó, công tác sản xuất thông tin của Tạp chí điện tử Văn hóa và Phát triển bước đầu đã được đầu tư số hóa với trang thiết bị hệ thống phần mềm quản lý xuất bản để quản lý tin, bài và quy trình xuất bản trực tuyến, cùng với các hệ quản trị nội dung đi kèm, các chuyên mục theo hướng đa phương tiện gồm các loại tin, bài văn bản, Video, trực tiếp, photo, Emagazine, Infographic… Các loại hình thông tin này được chú trọng hàm lượng thông tin, hình ảnh sáng tạo, sắc nét, hấp dẫn để tiếp cận người đọc nhanh chóng hơn, là kênh thông tin văn hóa chuyên ngành hữu ích cho bạn đọc và công chúng trên nền tảng số. Tạp chí từng bước làm tốt “kho” lưu trữ dữ liệu, thuận tiện cho việc tra cứu trong mạng nội bộ cũng như trên các nền tảng số, nhất là trên google để tạo ra giá trị mới theo chủ đề của Chuyển đổi số, góp phẩn tích cực xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc./.VH&PT

Tổng thống Nga Vladimir Putin lên chuyên cơ, vẫy tay chào.



23h40: Chuyên cơ Il-96-300PU chở nhà lãnh đạo Nga cất cánh, kết thúc tốt đẹp chuyến thăm cấp Nhà nước tới Việt Nam.
Nhân chuyến thăm cấp Nhà nước tới Việt Nam của Tổng thống Liên bang Nga Vladimir Putin, hai bên đã ra Tuyên bố chung về làm sâu sắc hơn quan hệ Đối tác Chiến lược toàn diện trên cơ sở thành tựu 30 năm thực hiện Hiệp ước về những nguyên tắc cơ bản của quan hệ hữu nghị Việt Nam-Nga.
Toàn văn Tuyên bố chung như sau:
“Nhận lời mời của Tổng Bí thư Ban chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam Nguyễn Phú Trọng, Tổng thống Liên bang Nga Vladimir Putin đã thực hiện chuyến thăm cấp Nhà nước đến nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam từ ngày 19-20/6/2024. Chuyến thăm diễn ra trong bối cảnh hai nước kỷ niệm 30 năm ký kết Hiệp ước về những nguyên tắc cơ bản của quan hệ hữu nghị giữa Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Liên bang Nga (16/6/1994).
Tại Hà Nội, Tổng thống Nga Vladimir Putin đã có các cuộc hội đàm với Tổng Bí thư Ban chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam Nguyễn Phú Trọng và Chủ tịch nước Tô Lâm, hội kiến với Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính và Chủ tịch Quốc hội Trần Thanh Mẫn. Tổng thống Vladimir Putin cũng đã đặt hoa tại Đài tưởng niệm các Anh hùng, liệt sĩ và Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh. Chủ tịch nước Tô Lâm và Tổng thống Vladimir Putin đã gặp gỡ với cựu sinh viên Việt Nam từng tốt nghiệp tại các trường đại học của Liên Xô và Nga.
Trong bầu không khí thân tình và hữu nghị, hai bên đã trao đổi sâu rộng về nhiều nội dung và phương hướng thúc đẩy quan hệ Việt Nam-Nga trên các lĩnh vực chính trị, kinh tế-thương mại, khoa học-công nghệ và nhân văn. Hai bên cũng đã thảo luận về nhiều vấn đề quốc tế và khu vực cùng quan tâm trên tinh thần tin cậy.
Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng và Tổng thống Vladimir Putin đã tổng kết hợp tác nhiều mặt giữa Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Liên bang Nga từ sau khi ký kết Hiệp ước về những nguyên tắc cơ bản của quan hệ hữu nghị Việt Nam-Nga ngày 16/6/1994 và thiết lập quan hệ Đối tác Chiến lược toàn diện giữa hai nước năm 2012.
Phía Việt Nam hoan nghênh kết quả bầu cử Tổng thống Liên bang Nga vào tháng 3 năm 2024, ghi nhận tính minh bạch và khách quan của cuộc bầu cử, cho rằng việc Tổng thống Vladimir Putin tái đắc cử thể hiện sự ủng hộ mạnh mẽ của nhân dân Nga đối với đường lối của Liên bang Nga, với một trong những ưu tiên đối ngoại là phát triển hợp tác với nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
Phía Việt Nam kịch liệt lên án vụ khủng bố dã man ngày 22 tháng 3 năm 2024 tại tỉnh Mát-xcơ-va, tuyên bố không chấp nhận các hành động tấn công dân thường và ủng hộ Nga đấu tranh chống chủ nghĩa khủng bố và cực đoan, cũng như trong bảo đảm hòa bình và ổn định trong nước.
Phía Nga đánh giá cao những thành tựu to lớn mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã đạt được dưới sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng Cộng sản Việt Nam, đứng đầu là Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng, góp phần ngày càng nâng cao uy tín và vị thế của Đảng Cộng sản Việt Nam và Nhà nước Việt Nam trên trường quốc tế, cũng như tin tưởng rằng Việt Nam sẽ thực hiện thắng lợi các mục tiêu chiến lược phát triển đất nước. Tổng thống Vladimir Putin cũng đã chúc mừng Chủ tịch nước Tô Lâm nhân dịp được bầu giữ chức Chủ tịch nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và mời Lãnh đạo cấp cao Việt Nam dự Lễ kỷ niệm 80 năm Chiến thắng trong Chiến tranh vệ quốc vĩ đại (ngày 9/5/2025).
Trên cơ sở kết quả chuyến thăm, Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Liên bang Nga đã tuyên bố như sau:
1. Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Liên bang Nga không ngừng củng cố quan hệ Đối tác chiến lược toàn diện trên tinh thần hữu nghị và ủng hộ lẫn nhau trong bối cảnh quốc tế phức tạp. Năm 2025, hai nước sẽ kỷ niệm 75 năm thiết lập quan hệ ngoại giao, đánh dấu chặng đường dài cùng nhau vượt qua thử thách và khó khăn, trong đó có những năm tháng nhân dân Việt Nam đấu tranh vì độc lập, tự do.
Quan hệ song phương đã đứng vững trước các biến động, góp phần củng cố hòa bình, ổn định và an ninh tại khu vực châu Á-Thái Bình Dương và trên thế giới. Với nỗ lực chung của hai Bên, quan hệ hợp tác nhiều mặt Việt Nam-Nga tiếp tục phát triển tích cực phù hợp với lợi ích hai quốc gia, là tài sản vô giá của nhân dân hai nước và là hình mẫu của quan hệ hữu nghị truyền thống và hợp tác cùng có lợi.
Sau 30 năm thực hiện Hiệp ước về những nguyên tắc cơ bản của quan hệ hữu nghị và sau khi thiết lập quan hệ Đối tác chiến lược toàn diện năm 2012, hai bên đã đạt được những thành tựu quan trọng sau:
- Đối thoại chính trị giữa Việt Nam và Nga có độ tin cậy và hiểu biết cao. Trao đổi, tiếp xúc các cấp được duy trì thường xuyên, tạo nền tảng vững chắc cho việc củng cố và mở rộng hơn nữa quan hệ song phương. Hai bên duy trì quan điểm gần gũi hoặc tương đồng về nhiều vấn đề quốc tế và khu vực, phối hợp hiệu quả trong khuôn khổ các tổ chức đa phương.
- Việt Nam và Nga không ngừng thúc đẩy hơn nữa hợp tác kinh tế-thương mại, bao gồm trên cơ sở Hiệp định thương mại tự do giữa Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và các quốc gia thành viên Liên minh kinh tế Á-Âu ký ngày 29/5/2015.
- Hai bên tiếp tục củng cố hợp tác trên các lĩnh vực dầu khí, năng lượng, công nghiệp, công nghệ số, giao thông-vận tải và nông nghiệp, phát huy tiềm năng to lớn về hợp tác trong lĩnh vực khoa học-kỹ thuật, công nghệ, giáo dục và nhân văn. Hai bên ngày càng chú trọng tăng cường hợp tác địa phương, tiếp xúc theo kênh đảng và tổ chức xã hội, nâng cao hiệu quả các cơ chế hợp tác hiện có, thành lập các cơ chế và khuôn khổ hợp tác mới khi cần thiết.
2. Nhằm phát huy thành tựu đạt được sau 30 năm thực hiện Hiệp ước về những nguyên tắc cơ bản của quan hệ hữu nghị, gìn giữ truyền thống hữu nghị tốt đẹp, cũng như tranh thủ tiềm năng hợp tác, hai Bên khẳng định mong muốn làm sâu sắc hơn quan hệ Đối tác chiến lược toàn diện trên cơ sở các nguyên tắc và định hướng sau:
- Việc củng cố và nâng cao hiệu quả quan hệ Đối tác Chiến lược toàn diện là một trong những ưu tiên đối ngoại của Việt Nam và Nga, đáp ứng lợi ích lâu dài, góp phần vào sự phát triển của mỗi nước, cũng như nâng cao vai trò của hai quốc gia tại mỗi khu vực và trên thế giới.
- Việt Nam và Nga xây dựng quan hệ trên cơ sở tin cậy lẫn nhau, các nguyên tắc bình đẳng chủ quyền giữa các quốc gia, toàn vẹn lãnh thổ, quyền bình đẳng và tự quyết của các dân tộc, không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau, không sử dụng hoặc đe dọa sử dụng vũ lực, giải quyết hòa bình các tranh chấp, cũng như trên cơ sở phù hợp với Hiến chương Liên Hợp Quốc và luật pháp quốc tế, quyết tâm tiếp tục hợp tác chặt chẽ trên tất cả các lĩnh vực trong cả khuôn khổ song phương và đa phương.
- Việt Nam và Nga không liên minh hoặc thỏa thuận với bên thứ ba nhằm có các hành động phương hại đến độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ, cũng như lợi ích cơ bản của nhau. Việc phát triển quan hệ Việt Nam-Nga không nhằm chống lại bất kỳ bên thứ ba khác.
3. Việt Nam và Nga nhất trí tiếp tục triển khai các nội dung hợp tác sau:
- Tiếp tục tăng cường đối thoại chính trị thường xuyên và thực chất ở cấp cao và cấp cao nhất, nỗ lực thực hiện hiệu quả các thỏa thuận đạt được giữa lãnh đạo hai nước. Nâng cao hiệu quả của các cơ chế hợp tác hiện có và thành lập các cơ chế hợp tác mới, kịp thời phối hợp tháo gỡ các vấn đề trong hợp tác song phương.
- Đẩy mạnh tiếp xúc theo kênh đảng và giữa lãnh đạo các cơ quan lập pháp, Ủy ban hợp tác liên nghị viện giữa Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Duma Quốc gia Quốc hội Liên bang Nga, giữa các ủy ban và nhóm nghị sỹ hữu nghị của Quốc hội hai nước; tiếp tục phối hợp hành động tại các diễn đàn liên nghị viện quốc tế và khu vực.
- Nhấn mạnh quan hệ hợp tác quốc phòng-an ninh giữ vai trò đặc biệt trong tổng thể quan hệ Việt Nam-Nga, không nhằm chống lại bất kỳ bên thứ ba, có độ tin cậy cao và hoàn toàn phù hợp với các nguyên tắc và quy định của luật pháp quốc tế, góp phần bảo đảm hòa bình, ổn định và phát triển tại khu vực châu Á-Thái Bình Dương và trên thế giới nói chung.
- Nhất trí củng cố hợp tác toàn diện trong lĩnh vực an ninh thông tin quốc tế phù hợp với luật pháp quốc tế và các hiệp định, thỏa thuận song phương nhằm ngăn chặn việc sử dụng công nghệ thông tin và truyền thông vào mục đích xâm hại chủ quyền, vi phạm toàn vẹn lãnh thổ, cũng như các hành vi khác trên không gian mạng toàn cầu có mục đích cản trở hòa bình, an ninh và ổn định quốc tế. Tiếp tục hoàn thiện cơ sở pháp lý song phương đối với hợp tác hỗ trợ tư pháp liên quan đến tội phạm hình sự sử dụng công nghệ thông tin và truyền thông.
- Tiếp tục tăng cường hợp tác ứng phó với tình huống khẩn cấp nhằm ngăn chặn và giảm thiểu thiệt hại, hỗ trợ người bị nạn, tiến hành diễn tập và huấn luyện chung giữa các cơ quan cứu hộ hai nước.
- Chú trọng phát triển hơn nữa hợp tác kinh tế. Tạo thuận lợi cho mở rộng quan hệ thương mại, đầu tư và tài chính-tín dụng phù hợp với luật pháp quốc tế và quy định pháp luật hai nước nhằm thúc đẩy trao đổi hàng hóa cân bằng, khai thác hiệu quả lợi thế của Hiệp định Thương mại tự do giữa Việt Nam và các nước thành viên Liên minh Kinh tế Á-Âu.
- Khẳng định vai trò điều phối quan trọng của cơ chế Ủy ban liên Chính phủ Việt Nam-Nga về hợp tác kinh tế-thương mại và khoa học-kỹ thuật, cùng các tiểu ban và tổ công tác trong việc xây dựng và triển khai các dự án và chương trình hợp tác chung. Ủng hộ sớm thống nhất và triển khai Kế hoạch tổng thể phát triển hợp tác Việt Nam-Nga đến năm 2030, bao gồm thông qua các lộ trình hợp tác trên các lĩnh vực.
- Khẳng định cần tăng cường đầu tư của Việt Nam vào Nga và đầu tư của Nga vào Việt Nam, bao gồm trên các lĩnh vực khai thác và chế biến khoáng sản, công nghiệp, nông nghiệp, chế tạo máy và năng lượng. Trên cơ sở đó, nhất trí thúc đẩy hoạt động của Nhóm công tác cấp cao Việt-Nga về các dự án đầu tư ưu tiên.
- Khẳng định tiếp tục hợp tác trong khuôn khổ các dự án dầu khí hiện có và mới phù hợp với pháp luật mỗi nước, bao gồm việc cung cấp, chế biến dầu thô và khí hóa lỏng cho Việt Nam, đáp ứng lợi ích chiến lược của hai bên. Đánh giá hợp tác xây mới và hiện đại hóa các cơ sở điện năng hiện có là hướng hợp tác triển vọng.
- Ủng hộ tạo điều kiện thuận lợi cho việc mở rộng hoạt động của doanh nghiệp dầu khí Việt Nam tại Liên bang Nga và doanh nghiệp dầu khí Nga tại thềm lục địa Việt Nam, phù hợp với luật pháp Việt Nam và Nga, cũng như luật pháp quốc tế, bao gồm Công ước Liên Hợp Quốc về Luật Biển năm 1982.
- Tính đến tiềm năng hợp tác trong lĩnh vực năng lượng nguyên tử, quyết tâm đẩy nhanh triển khai dự án xây dựng Trung tâm Nghiên cứu khoa học công nghệ hạt nhân tại Việt Nam.
- Cho rằng cần tăng cường hợp tác trên các lĩnh vực như công nghiệp khai khoáng, giao thông-vận tải, đóng tàu và chế tạo máy, hiện đại hóa đường sắt.
- Khẳng định tầm quan trọng của việc mở rộng hợp tác trong lĩnh vực nông nghiệp, ngư nghiệp và lâm nghiệp, bao gồm tăng cường xuất nhập khẩu các sản phẩm nông nghiệp, cũng như khuyến khích doanh nghiệp tham gia thành lập các cơ sở sản xuất nông nghiệp tại Việt Nam và Nga.
- Ủng hộ tính chất chiến lược trong hợp tác giáo dục-đào tạo, khoa học-công nghệ và đổi mới sáng tạo. Trên tinh thần đó, hoan nghênh việc ký kết hiệp định về hợp tác trong lĩnh vực giáo dục đại học trong khuôn khổ chuyến thăm lần này.
- Ủng hộ đẩy mạnh nghiên cứu và giảng dạy tiếng Việt tại Nga và tiếng Nga tại Việt Nam, bao gồm sử dụng tối đa tiềm năng của các cơ sở giáo dục hai nước, trong đó có Phân viện tiếng Nga mang tên Puskin tại Hà Nội và Trung tâm Khoa học và Văn hóa Nga tại Hà Nội.
- Giao các bộ, ngành liên quan nghiên cứu sáng kiến của Nga về lập trường phổ thông giảng dạy bằng tiếng Nga tại Hà Nội.
- Hỗ trợ mở rộng hoạt động của Mạng lưới các trường đại học kỹ thuật Việt-Nga để đào tạo bậc đại học, tổ chức các hoạt động hướng nghiệp tại Việt Nam nhằm tăng cường quảng bá cho mạng lưới trên.
- Hỗ trợ hoạt động, phát huy hiệu quả tiềm lực của Trung tâm Nghiên cứu khoa học công nghệ nhiệt đới Việt-Nga nhằm đưa trung tâm thành hình mẫu, biểu tượng cho hợp tác song phương. Bảo đảm hoạt động nghiên cứu của các chuyên gia Việt Nam và Nga tại Trung tâm ngang tầm khu vực và quốc tế. Nga sẽ chuyển giao tàu nghiên cứu khoa học “Giáo sư Ga-ga-rin-xki” cho Việt Nam. Tiếp tục xem xét chuyển giao công nghệ trong khuôn khổ hoạt động của Trung tâm.
- Hoan nghênh thúc đẩy hợp tác trong lĩnh vực nhân văn, bao gồm mở rộng giao lưu giữa các bộ, ngành, địa phương, tiến hành thường xuyên các Ngày văn hóa hai nước trên cơ sở có đi có lại, duy trì tiếp xúc giữa các cơ quan thông tin đại chúng, lưu trữ, hội hữu nghị và các tổ chức xã hội khác.
- Hỗ trợ mở rộng hợp tác nhằm thúc đẩy chương trình nghị sự tích cực của quan hệ Đối tác Chiến lược toàn diện Việt Nam-Nga trên không gian mạng toàn cầu, tiếp tục tạo điều kiện thuận lợi cho hợp tác trong lĩnh vực báo chí, tăng cường phối hợp ngăn chặn thông tin sai lệch và chiến dịch thông tin không thân thiện của các bên thứ ba.
- Tiếp tục thúc đẩy hợp tác nhiều mặt trong lĩnh vực y tế, bao gồm chuyển giao công nghệ và đào tạo cán bộ y tế chất lượng cao.
- Khẳng định mong muốn tăng cường hơn nữa giao lưu trong lĩnh vực thể dục và thể thao. Việt Nam đánh giá cao việc Nga lần đầu tiên tổ chức Giải thể thao quốc tế “Thế vận hội tương lai” tại Kazan và ủng hộ việc Liên bang Nga tổ chức Đại hội thể thao của các nước BRICS trên tinh thần không phân biệt đối xử, phù hợp với nguyên tắc chung của phong trào Olympic.
- Hài lòng ghi nhận tăng trưởng ổn định lượng khách du lịch Nga đến Việt Nam và ủng hộ mở rộng hơn nữa hợp tác du lịch, bao gồm tăng số lượng các chuyến bay thẳng thường lệ và chuyến bay thuê chuyến giữa hai nước, cũng như đơn giản hóa thủ tục đi lại cho công dân hai nước.
- Tiếp tục trao đổi về vấn đề di trú, tạo thuận lợi cho việc sinh sống, làm việc và học tập của công dân Việt Nam tại Nga và công dân Nga tại Việt Nam.
- Khẳng định tầm quan trọng của việc tổ chức kỷ niệm trang trọng các sự kiện trọng đại trong lịch sử hai nước và quan hệ Việt Nam-Nga trong năm 2025, bao gồm 75 năm thiết lập quan hệ ngoại giao Việt Nam-Nga (30/1/1950), 50 năm Giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước (30/4/1975), 80 năm chiến thắng trong Chiến tranh vệ quốc vĩ đại (9/5/1945), 80 năm Quốc khánh Việt Nam (2/9/1945).
4. Thúc đẩy tiến trình khách quan hình thành trật tự thế giới đa cực công bằng và bền vững, dựa trên các nguyên tắc cơ bản của Hiến chương Liên Hợp Quốc và luật pháp quốc tế, bao gồm tôn trọng chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ, quyền dân tộc tự quyết, không can thiệp vào công việc nội bộ của các quốc gia, không sử dụng vũ lực hoặc đe dọa sử dụng vũ lực, giải quyết hòa bình tranh chấp.
- Ghi nhận thay đổi nhanh chóng trong bức tranh chính trị-kinh tế toàn cầu, củng cố vị thế và tiềm lực của các nước phương Nam. Hoan nghênh vai trò ngày càng tăng của các nước này trong quản trị quốc tế.
- Cho rằng mọi quốc gia có quyền tự quyết định mô hình phát triển, thể chế chính trị, kinh tế và xã hội phù hợp với điều kiện đất nước và nguyện vọng của nhân dân. Hai bên không ủng hộ can thiệp vào công việc nội bộ của các quốc gia, việc áp đặt các biện pháp cấm vận đơn phương, áp dụng trị ngoại pháp quyền, chia rẽ về ý thức hệ mà không có cơ sở pháp lý quốc tế và không thông qua Hội đồng Bảo an Liên Hợp Quốc.
- Khẳng định nhất quán kết quả của Chiến tranh Thế giới thứ hai, được nêu trong Hiến chương Liên Hợp Quốc, cũng như phản đối mọi mưu toan bác bỏ, làm sai lệch và xuyên tạc lịch sử Chiến tranh Thế giới thứ hai. Hai bên khẳng định tầm quan trọng của việc giáo dục đúng đắn lịch sử, gìn giữ ký ức về cuộc đấu tranh chống chủ nghĩa phát xít, kiên quyết lên án các hành động tôn vinh, nỗ lực hồi sinh chủ nghĩa phát xít và quân phiệt.
- Tiếp tục củng cố hợp tác trong khuôn khổ Liên Hợp Quốc, bao gồm tại Đại hội đồng Liên Hợp Quốc, không ủng hộ việc chính trị hóa hoạt động của các cơ quan chuyên môn của Liên Hợp Quốc và các tổ chức quốc tế khác. Ủng hộ vai trò điều phối trung tâm của Liên Hợp Quốc trong việc bảo đảm hòa bình, an ninh và phát triển bền vững, ủng hộ nâng cao hiệu quả hoạt động, cũng như dân chủ hóa và cải tổ Liên Hợp Quốc. Hai bên có quan điểm gần gũi hoặc tương đồng về nhiều vấn đề khu vực và toàn cầu, tiếp tục hợp tác chặt chẽ tại Liên Hợp Quốc và các tổ chức quốc tế đa phương khác, ủng hộ lẫn nhau ứng cử vào các tổ chức quốc tế và các cơ quan chấp hành liên quan.
- Cam kết thúc đẩy hệ thống thương mại đa phương mở, bao trùm, minh bạch và không phân biệt đối xử, dựa trên các quy tắc của Tổ chức Thương mại thế giới (WTO). Bày tỏ quan ngại về việc chính trị hóa quan hệ kinh tế quốc tế và phân mảnh thương mại toàn cầu, gia tăng chủ nghĩa bảo hộ và cạnh tranh không lành mạnh.
- Khẳng định sẵn sàng thúc đẩy nỗ lực chung của cộng đồng quốc tế nhằm ứng phó với các thách thức an ninh truyền thống và phi truyền thống, trong đó có khủng bố, tội phạm xuyên quốc gia, xung đột vũ trang, sản xuất và buôn bán trái phép chất ma túy, tranh chấp lãnh thổ, can thiệp lật đổ, biến đổi khí hậu, thiên tai, dịch bệnh. Nỗ lực nhằm bảo đảm an ninh thông tin, an ninh lương thực, cũng như triển khai hiệu quả Chương trình nghị sự 2030 về phát triển bền vững.
- Tiếp tục phát triển hợp tác trong lĩnh vực đấu tranh chống chủ nghĩa khủng bố quốc tế và tài trợ khủng bố quốc tế tính đến vai trò điều phối trung tâm của Liên Hợp Quốc trên cơ sở tuân thủ nghiêm các quy định và nguyên tắc của luật pháp quốc tế, cũng như thúc đẩy tăng cường vai trò chủ đạo của các quốc gia và các cơ quan có thẩm quyền trong lĩnh vực này.
- Ủng hộ các nỗ lực quốc tế về kiểm soát vũ khí, giải trừ quân bị và không phổ biến vũ khí, bao gồm thúc đẩy tiến trình kiểm điểm Hiệp ước về không phổ biến vũ khí hạt nhân ngày 1/7/1968, cũng như trong khuôn khổ Hiệp ước Cấm thử hạt nhân toàn diện. Ủng hộ tham vấn giữa năm cường quốc hạt nhân với các nước thành viên Hiệp ước khu vực Đông Nam Á không vũ khí hạt nhân nhằm giải quyết những vướng mắc và tiến tới ký kết Nghị định thư kèm theo Hiệp ước.
- Ủng hộ việc tuân thủ và củng cố Công ước về cấm phát triển, sản xuất và tàng trữ vũ khí vi khuẩn (sinh học) và độc tố cũng như về việc tiêu hủy chúng ngày 16/12/1971, bao gồm thể chế hóa thực thi Công ước và không để trùng lặp chức năng giữa các cơ quan quốc tế liên quan.
- Khẳng định cần khởi động đàm phán đa phương về Công ước quốc tế về đấu tranh chống tấn công khủng bố sinh học và hóa học tại Hội nghị về giải trừ quân bị nhằm ứng phó với nguy cơ khủng bố sinh học và hóa học.
- Kiên trì mục tiêu xây dựng thế giới không có vũ khí hóa học, quan ngại về việc chính trị hóa hoạt động của Tổ chức cấm vũ khí hóa học. Khẳng định tầm quan trọng của việc thực thi đầy đủ Công ước về cấm phát triển, sản xuất, tàng trữ, sử dụng và phá hủy vũ khí hóa học ngày 13/1/1993, là công cụ quan trọng trong lĩnh vực giải trừ quân bị và không phổ biến vũ khí.
- Bày tỏ quan ngại về nguy cơ chạy đua vũ trang trong không gian vũ trụ, nhấn mạnh cần tuân thủ sử dụng khoảng không vũ trụ chỉ cho mục đích hòa bình, ủng hộ đẩy nhanh đàm phán Hiệp ước về ngăn ngừa triển khai vũ khí trong khoảng không vũ trụ, dùng vũ lực hoặc đe dọa sử dụng vũ lực trong vũ trụ, cũng như ủng hộ thúc đẩy các sáng kiến và cam kết về không triển khai trước vũ khí trong vũ trụ.
- Thúc đẩy hợp tác bảo đảm an ninh công nghệ thông tin và truyền thông, sẵn sàng hợp tác ứng phó các nguy cơ trên không gian mạng, bao gồm liên quan đến trí tuệ nhân tạo trong công nghệ thông tin và truyền thông, ủng hộ thành lập khuôn khổ quản trị không gian mạng toàn cầu mang tính đa phương, dân chủ và minh bạch trên cơ sở bảo đảm an ninh thông tin và an toàn cho các mạng internet quốc gia.
- Thừa nhận vai trò chủ chốt của Liên Hợp Quốc trong thảo luận các vấn đề an ninh thông tin quốc tế. Cho rằng cần thiết xây dựng quy chế pháp lý quốc tế về quản lý không gian mạng. Các bên ủng hộ Liên Hợp Quốc sớm xây dựng Công ước toàn diện về ngăn chặn sử dụng công nghệ thông tin và truyền thông vào mục đích tội phạm và củng cố hơn nữa hợp tác trên lĩnh vực này.
- Tiếp tục triển khai ứng phó với biến đổi khí hậu, khẳng định cam kết với các mục tiêu, nguyên tắc và nội dung chính của Công ước khung Liên Hợp Quốc về biến đổi khí hậu ngày 9/5/1992 và Thỏa thuận Paris ngày 12/12/2015. Nhấn mạnh tầm quan trọng của việc tăng cường chuyển giao công nghệ và hỗ trợ tài chính nhằm triển khai các nỗ lực trên.
- Tin tưởng rằng, theo nguyên tắc cơ bản của luật pháp quốc tế về bình đẳng giữa các quốc gia, cần tôn trọng các nghĩa vụ quốc tế liên quan đến quyền miễn trừ quốc gia và miễn trừ tài sản quốc gia.
- Tiếp tục hợp tác trong bảo vệ và thúc đẩy quyền con người trên cơ sở bình đẳng và tôn trọng lẫn nhau, phù hợp với Hiến chương Liên Hợp Quốc, các quy định của luật pháp quốc tế và luật pháp quốc gia của Việt Nam và Nga. Phối hợp chặt chẽ nhằm đấu tranh với xu hướng chính trị hóa quyền con người, sử dụng các vấn đề quyền con người để can thiệp vào công việc nội bộ của mỗi quốc gia.
- Cho rằng cần củng cố hơn nữa tiềm năng của UNESCO như diễn đàn nhân văn liên chính phủ toàn cầu, thúc đẩy duy trì đối thoại chuyên môn tại diễn đàn này nhằm đạt được đồng thuận của các quốc gia thành viên và thúc đẩy chương trình nghị sự thống nhất.
- Nga đánh giá cao lập trường cân bằng, khách quan của Việt Nam về vấn đề Ucraina, theo đó cần giải quyết tranh chấp, bất đồng bằng các biện pháp hòa bình phù hợp với luật pháp quốc tế và các nguyên tắc của Hiến chương Liên Hợp Quốc, có tính đến lợi ích chính đáng của các bên liên quan, vì hòa bình, ổn định và phát triển tại khu vực và trên thế giới; hoan nghênh Việt Nam sẵn sàng tham gia các nỗ lực quốc tế có sự tham gia của các bên liên quan nhằm tìm kiếm giải pháp hòa bình, bền vững cho vấn đề Ucraina.
- Phía Nga hoan nghênh Việt Nam tham gia vào Phiên họp Bộ trưởng Ngoại giao các nước BRICS và các nước phương Nam và phương Đông từ ngày 10-11/6/2024 tại Ni-giơ-nhi Nốp-gô-rốt. Tiếp tục tăng cường hợp tác giữa các nước BRICS và các nước đang phát triển, trong đó có Việt Nam.
- Cho rằng cần tăng cường các nỗ lực chung của khu vực nhằm xây dựng tại châu Á-Thái Bình Dương cấu trúc an ninh và hợp tác bình đẳng, không chia tách, mang tính toàn diện, mở và minh bạch, bao trùm dựa trên cơ sở luật pháp quốc tế, bao gồm các nguyên tắc không sử dụng hoặc đe dọa sử dụng vũ lực, giải quyết hòa bình xung đột, không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau. Hai bên phản đối việc chia rẽ cấu trúc khu vực châu Á-Thái Bình Dương với vai trò trung tâm của ASEAN, tác động tiêu cực đến việc mở rộng và tăng cường đối thoại chung của khu vực.
- Khẳng định tính phổ quát và toàn vẹn của Công ước Liên Hợp Quốc về Luật Biển năm 1982, là nền tảng pháp lý cho tất cả hoạt động trên biển và đại dương và có vai trò chủ đạo trong phát triển hợp tác ở cấp quốc gia, khu vực và quốc tế, nhấn mạnh cần duy trì tính toàn vẹn của Công ước.
- Phối hợp bảo đảm an ninh, an toàn và tự do hàng hải và hàng không và các hoạt động thương mại không bị cản trở, ủng hộ kiềm chế, không sử dụng vũ lực hay đe dọa sử dụng vũ lực và giải quyết các tranh chấp giữa các bên liên quan bằng các biện pháp hòa bình phù hợp với các nguyên tắc của Hiến chương Liên Hợp Quốc và luật pháp quốc tế, trong đó có Công ước Liên Hợp Quốc về Luật Biển năm 1982, cũng như theo các tiêu chuẩn và thực tiễn được khuyến nghị của Tổ chức Hàng không dân dụng quốc tế và Tổ chức Hàng hải quốc tế.
- Ủng hộ việc thực hiện đầy đủ và hiệu quả Tuyên bố về ứng xử của các bên tại Biển Đông (DOC) năm 2002 và hoan nghênh tiến trình đàm phán nhằm sớm đạt Bộ quy tắc ứng xử ở Biển Đông (COC) hiệu lực, thực chất.
- Ủng hộ việc củng cố vai trò trung tâm của Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN) trong cấu trúc khu vực tại châu Á-Thái Bình Dương thông qua đề cao giá trị và nguyên tắc của Hiệp ước Thân thiện và Hợp tác ở Đông Nam Á, tham gia các cơ chế hợp tác do ASEAN dẫn dắt như Hội nghị cấp cao Đông Á, Diễn đàn Khu vực ASEAN, Hội nghị Bộ trưởng Quốc phòng ASEAN mở rộng.
- Thúc đẩy hợp tác trong khuôn khổ Tham vấn các Đại diện cao cấp phụ trách vấn đề an ninh ASEAN-Nga, tăng cường hợp tác trong lĩnh vực an ninh thông tin trong quan hệ ASEAN-Nga, cũng như trong khuôn khổ Đối thoại ASEAN-Nga liên quan đến an ninh công nghệ thông tin và truyền thông.
- Tiếp tục tăng cường và làm sâu sắc hơn quan hệ Đối tác chiến lược ASEAN-Nga, đẩy mạnh triển khai hợp tác hiệu quả trên cơ sở Kế hoạch hành động toàn diện ASEAN-Nga giai đoạn 2021-2025 và quyết tâm soạn thảo văn kiện tương tự cho giai đoạn 5 năm tiếp theo.
- Tăng cường liên kết kinh tế khu vực và triển khai các sáng kiến kết nối liên khu vực, bao gồm dự án Đối tác Đại Á-Âu, cũng như tìm hiểu tiềm năng hợp tác kinh tế giữa ASEAN, Liên minh Kinh tế Á-Âu. Tiếp tục thúc đẩy hợp tác giữa ASEAN với Liên minh Kinh tế Á-Âu và Tổ chức Hợp tác Thượng Hải.
- Tiếp tục hợp tác trong khuôn khổ Diễn đàn Hợp tác kinh tế châu Á-Thái Bình Dương, các cơ chế liên nghị viện khu vực (Diễn đàn liên nghị viện ASEAN, Diễn đàn nghị viện châu Á-Thái Bình Dương, Đại hội đồng nghị viện châu Á) nhằm mục đích nâng cao vai trò của các cơ chế này vì hòa bình, ổn định, phát triển và thịnh vượng tại ở châu Á. Tăng cường hợp tác với các nước tiểu vùng Mekong trên các lĩnh vực.
- Nga ủng hộ và cam kết phối hợp chặt chẽ với Việt Nam hướng tới tổ chức thành công Năm APEC Việt Nam 2027.
- Chia sẻ mong muốn củng cố hòa bình và ổn định tại Trung Đông, phản đối can thiệp vào công việc nội bộ của các nước khu vực, bày tỏ cam kết đối với một giải pháp toàn diện, công bằng và lâu dài cho vấn đề Palestin trên cơ sở tôn trọng luật pháp quốc tế liên quan, với thành tố chính là giải pháp hai nhà nước, theo đó thành lập Nhà nước Palestin độc lập với thủ đô là Đông Jerusalem dựa trên đường biên giới trước năm 1967, cùng tồn tại hòa bình bên cạnh Nhà nước Israel.
Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Liên bang Nga tin tưởng rằng, việc triển khai hiệu quả các phương hướng hợp tác trên và phối hợp hành động tại các diễn đàn và tổ chức quốc tế và khu vực sẽ góp phần củng cố và tăng cường thực chất quan hệ song phương, thắt chặt quan hệ hữu nghị truyền thống và Đối tác Chiến lược toàn diện giữa hai nước, đáp ứng lợi ích lâu dài của nhân dân hai nước, vì hòa bình, an ninh và phát triển bền vững tại khu vực châu Á-Thái Bình Dương nói riêng và trên thế giới nói chung.
***
Tổng thống Vladimir Putin cảm ơn Tổng Bí thư Ban chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam Nguyễn Phú Trọng và lãnh đạo cấp cao Việt Nam đã đón tiếp chu đáo và trọng thị, thể hiện tin cậy cao, hữu nghị truyền thống và tình cảm đặc biệt giữa lãnh đạo và nhân dân hai nước.
Tổng thống Vladimir Putin mời Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng và lãnh đạo cấp cao Việt Nam sang thăm Nga vào thời điểm thích hợp. Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng và các đồng chí lãnh đạo cấp cao Việt Nam đã vui vẻ nhận lời”.

Trung sĩ Công an cứu người đuối nước, lan tỏa điều tốt đẹp trong cuộc sống

  Trung sĩ Công an cứu người đuối nước, lan tỏa điều tốt đẹp trong cuộc sống      Phát hiện 2 cháu bé đang chấp chới giữa dòng nước, không q...