10/5/24

Hãy cùng nhau kể vai sát cánh tiếp tục lập nên những kỳ tích “Điện Biên Phủ mới”



Diễn văn do đồng chí Phạm Minh Chính, Ủy viên Bộ Chính trị, Thủ tướng Chính phủ trình bày tại Lễ kỷ niệm 70 năm Chiến thắng Điện Biên Phủ (1954-2024):
"Kính thưa các đồng chí lãnh đạo, nguyên lãnh đạo Đảng, Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam!
Kính thưa các bậc lão thành cách mạng, các Mẹ Việt Nam Anh hùng, Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân, Anh hùng Lao động!
Thưa quý vị đại biểu, khách quý cùng toàn thể đồng bào, đồng chí, chiến sĩ cả nước và đồng bào ta ở nước ngoài!
Hôm nay, trong không khí vui mừng, phấn khởi, tự hào của cả nước, tại thành phố Điện Biên Phủ tươi đẹp, Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam, Chủ tịch nước, Quốc hội, Chính phủ, Uỷ ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam long trọng tổ chức Lễ kỷ niệm 70 năm chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ - một chiến thắng vĩ đại "được ghi vào lịch sử dân tộc như một Bạch Đằng, một Chi Lăng, hay một Đống Đa của thế kỷ XX, và đi vào lịch sử thế giới như một chiến công chói lọi đột phá thành trì của hệ thống nô dịch thuộc địa của chủ nghĩa đế quốc".
Trước hết, tôi xin được thay mặt lãnh đạo Đảng, Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam nhiệt liệt chào mừng và xin gửi tới quý vị đại biểu, khách quý, đồng bào, đồng chí, chiến sĩ cả nước, đồng bào ta ở nước ngoài cùng Đảng bộ và Nhân dân các dân tộc tỉnh Điện Biên lời chào trân trọng, lời thăm hỏi chân tình và lời chúc tốt đẹp nhất!
Nhân buổi Lễ trọng thể này, đồng chí Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng thân ái gửi đến toàn thể quý vị, đồng bào, đồng chí, chiến sĩ cả nước lời chúc mừng, những tình cảm chân thành, thân thiết nhất và chúc Lễ kỷ niệm của chúng ta thành công tốt đẹp!
Trong giờ phút thiêng liêng này, chúng ta thành kính nghiêng mình tưởng nhớ công lao vĩ đại và bày tỏ lòng biết ơn vô hạn Chủ tịch Hồ Chí Minh kính yêu - Vị Lãnh tụ thiên tài của Cách mạng Việt Nam, Anh hùng giải phóng dân tộc, Danh nhân văn hóa thế giới - Người Cha thân yêu của các lực lượng vũ trang đã cống hiến trọn cuộc đời mình cho độc lập, tự do của Tổ quốc, hạnh phúc của Nhân dân và hòa bình, tiến bộ của nhân loại.
Chúng ta tưởng nhớ và tri ân sâu sắc Đại tướng, Tổng Tư lệnh Võ Nguyên Giáp - Người học trò xuất sắc và gần gũi của Chủ tịch Hồ Chí Minh, người Anh Cả của Quân đội nhân dân Việt Nam anh hùng - Bí thư Đảng ủy, Chỉ huy trưởng Chiến dịch Điện Biên Phủ.
Chúng ta khắc ghi và biết ơn công lao to lớn của các bậc tiền bối, các anh hùng liệt sĩ, các Mẹ Việt Nam anh hùng, Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân, các thế hệ cán bộ, tướng lĩnh, sĩ quan, chiến sĩ, thanh niên xung phong, dân công hỏa tuyến, các đồng chí thương binh, bệnh binh, gia đình liệt sĩ cùng toàn thể các lực lượng vũ trang và Nhân dân ta trên khắp mọi miền của Tổ quốc đã tận tâm, tận lực, anh dũng chiến đấu, hy sinh quên mình, cùng góp phần làm nên Chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ "Lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu".
Sau 70 năm ngày Chiến thắng, chúng ta vẫn băn khoăn, trăn trở, ngậm ngùi khi còn đó nhiều liệt sĩ chưa xác định được đủ thông tin; nhiều cựu chiến binh vẫn đau đáu nỗi niềm tìm kiếm đồng đội; nhiều gia đình vẫn ngày đêm trông ngóng thông tin về người thân đã hy sinh trên chiến trường; máu xương của các anh hùng liệt sĩ đã hòa quện vào lòng đất Điện Biên - Tây Bắc, để góp phần cho ngày hôm nay đất nước ta được độc lập, tự do và Nhân dân được sống trong hòa bình, ấm no, hạnh phúc.
Với truyền thống đoàn kết, nghĩa tình, thủy chung của dân tộc, chúng ta chân thành biết ơn sự hỗ trợ, giúp đỡ quý báu, chí tình, chí nghĩa của Trung Quốc, các nước Liên Xô cũ, các nước xã hội chủ nghĩa, bạn bè quốc tế, các lực lượng tiến bộ, yêu chuộng hòa bình trên toàn thế giới, đặc biệt là các nước Lào, Campuchia anh em trong liên minh đoàn kết chiến đấu Ba nước Đông Dương đối với Chiến dịch Điện Biên Phủ nói riêng và sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc của Nhân dân Việt Nam nói chung.
Thưa các vị khách quý và đồng bào, chiến sĩ cả nước!
Thừa hưởng những thành quả của Cách mạng Tháng Tám năm 1945 và niềm vui độc lập chưa lâu, Nhân dân ta lại phải bước vào cuộc kháng chiến trường kỳ chống thực dân Pháp xâm lược. Dưới sự lãnh đạo của Đảng, hưởng ứng Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến bất hủ của Chủ tịch Hồ Chí Minh, quân và dân ta đã đoàn kết một lòng, với tinh thần "Nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ", nhất tề đứng lên kháng chiến và lần lượt đánh bại các chiến lược quân sự của thực dân Pháp.
Cuối tháng 9/1953, Bộ Chính trị đã đánh giá tình hình và quyết định thông qua kế hoạch tác chiến Đông Xuân 1953-1954, giữ vững quyền chủ động đánh địch trên các mặt trận, phối hợp chặt chẽ trên phạm vi cả nước và trên toàn Đông Dương với phương châm "Tích cực, chủ động, cơ động, linh hoạt"; dẫn đến sự đảo lộn của Kế hoạch Na-va, buộc địch bị động chống đỡ và ngày càng lún sâu vào thất bại trên khắp các chiến trường. Trước sự tăng cường hoạt động của ta trên hướng Tây Bắc và các chiến trường khác, địch vội cho quân đánh chiếm Điện Biên Phủ với âm mưu biến nơi đây thành "một tập đoàn cứ điểm mạnh", "một pháo đài khổng lồ không thể công phá".
Trên cơ sở phân tích, đánh giá kỹ lưỡng, nhận định đúng và rõ tình hình chiến trường, thế và lực của ta, ngày 6/12/1953, Chủ tịch Hồ Chí Minh, Bộ Chính trị Trung ương Đảng đã quyết định mở Chiến dịch Điện Biên Phủ. Bác Hồ kính yêu đã chỉ thị: "Chiến dịch này là một chiến dịch rất quan trọng không những về quân sự mà cả về chính trị, không những đối với trong nước mà đối với quốc tế. Vì vậy, toàn quân, toàn dân, toàn Đảng phải tập trung hoàn thành cho bằng được". Điện Biên Phủ đã trở thành "điểm quyết chiến chiến lược" giữa ta và địch, trong đó Trung ương Đảng đã hạ quyết tâm: "Tiêu diệt tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ để tạo nên một bước ngoặt mới trong chiến tranh".
Để tạo thuận lợi cho trận quyết chiến chiến lược Điện Biên Phủ, chúng ta đã mở các đợt tiến công chiến lược trên khắp các chiến trường. Những chiến công vang dội của quân và dân ta trên cả 3 miền Bắc - Trung - Nam, vừa tiêu diệt nhiều sinh lực địch, vừa giải phóng nhiều vùng đất đai rộng lớn, làm phá sản kế hoạch Na-va, buộc địch phải chia cắt, phân tán lực lượng để đối phó.
Tiến hành Chiến dịch Điện Biên Phủ, quân và dân ta phải đối mặt với vô vàn khó khăn, thử thách, từ công tác bảo đảm bí mật, hậu cần, quân số cho đến vũ khí, khí tài, trang thiết bị kỹ thuật; trong khi đó địch "binh hùng, tướng mạnh" với vũ khí, trang thiết bị hiện đại. Phát huy cao độ sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân tộc, với tinh thần "Tất cả cho tiền tuyến, tất cả để chiến thắng", hàng chục vạn cán bộ, chiến sĩ, dân công hoả tuyến cùng nhân dân các địa phương đã ngày đêm xẻ núi, bạt rừng, xuyên đèo, lội suối, mở hàng nghìn km đường giao thông cho bộ đội hành quân, vận chuyển vũ khí, lương thực, hậu cần cho Chiến dịch. Với thế trận chiến tranh nhân dân rộng khắp, với ý chí cứu nước dâng cao như "triều dâng, thác đổ", chúng ta đã hội tụ được sức mạnh tổng hợp vô song, sẵn sàng cho Chiến dịch.
Quán triệt sâu sắc sự chỉ đạo của Trung ương Đảng và lời căn dặn của Chủ tịch Hồ Chí Minh: "Trận này rất quan trọng, phải đánh cho thắng, chắc thắng mới đánh. Không chắc thắng không đánh", Đảng ủy Mặt trận, trực tiếp là Đại tướng Tổng Tư lệnh Võ Nguyên Giáp, với tư duy quân sự độc đáo, sự mưu lược, quyết đoán của một vị tướng tài ba, đã sáng suốt quyết định thay đổi phương châm tác chiến từ "Đánh nhanh, giải quyết nhanh" sang "Đánh chắc, tiến chắc" ngay trước giờ mở màn Chiến dịch.
Trải qua "Năm mươi sáu ngày đêm khoét núi, ngủ hầm, mưa dầm, cơm vắt/ Máu trộn bùn non/ Gan không núng/ Chí không mòn…", với "đôi chân đất", tinh thần thép và ý chí chiến đấu quật cường, bền bỉ, anh hùng của quân và dân ta, Chiến dịch Điện Biên Phủ đã giành thắng lợi vang dội - "Chín năm làm một Điện Biên/ Nên vành hoa đỏ, nên thiên sử vàng", giáng đòn quyết định, đánh bại nỗ lực cuối cùng của thực dân Pháp trong cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam. Đây là đỉnh cao thắng lợi của cuộc kháng chiến "Toàn dân, toàn diện, trường kỳ, dựa vào sức mình là chính", là thắng lợi của tinh thần "Không có gì quý hơn độc lập, tự do", là sự kết tinh sức mạnh Việt Nam trong thời đại Hồ Chí Minh; buộc thực dân Pháp phải ký Hiệp định Geneve (21/7/1954) về đình chỉ chiến sự ở Việt Nam; tạo cơ sở, tiền đề cho việc giải phóng, xây dựng miền Bắc quá độ lên chủ nghĩa xã hội và nền tảng vững chắc cho sự nghiệp đấu tranh giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước.
Thưa các vị khách quý và đồng bào, chiến sĩ cả nước!
Chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ là một sự kiện trọng đại, không chỉ có ý nghĩa đối với Cách mạng Việt Nam, mà còn trở thành bản anh hùng ca bất hủ thôi thúc các phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc, đánh dấu sự sụp đổ của chủ nghĩa thực dân cũ trên toàn thế giới, như Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định: "Đó là thắng lợi vĩ đại của Nhân dân ta, mà cũng là thắng lợi chung của tất cả các dân tộc bị áp bức trên thế giới. Chiến thắng Điện Biên Phủ càng làm sáng ngời chân lý của chủ nghĩa Marx - Lenin trong thời đại ngày nay: Chiến tranh xâm lược của bọn đế quốc nhất định thất bại, cách mạng giải phóng của các dân tộc nhất định thành công".
Chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ là kết tinh của sức mạnh vô địch của khối đại đoàn kết toàn dân tộc, là chiến thắng của chính nghĩa, của lòng dân, của lương tri và phẩm giá con người, được dẫn dắt bởi đường lối cách mạng đúng đắn, sáng tạo; bắt nguồn từ sự lãnh đạo sáng suốt, tài tình của Đảng và Bác Hồ kính yêu, từ truyền thống yêu nước nồng nàn và tinh thần đoàn kết đã được hun đúc qua hàng nghìn năm lịch sử, được Nhân dân các dân tộc Việt Nam trên khắp mọi miền đất nước phát huy cao độ và tận tâm, tận lực dốc sức, đồng lòng, đóng góp sức người, sức của cho Chiến dịch. Đặc biệt, góp phần trực tiếp làm nên chiến thắng là sự cống hiến, hy sinh to lớn của Quân đội nhân dân Việt Nam anh hùng - một đội quân "từ Nhân dân mà ra, vì Nhân dân mà chiến đấu" với trên 4 vạn cán bộ, chiến sĩ đã tham gia chiến dịch Điện Biên Phủ. Những tấm gương chiến đấu dũng cảm, hy sinh anh dũng trên chiến trường là minh chứng sinh động cho chủ nghĩa anh hùng cách mạng Việt Nam và lòng trung thành tuyệt đối với Đảng, Tổ quốc và Nhân dân.
Chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ để lại nhiều bài học kinh nghiệm quý giá mang tính lý luận và thực tiễn sâu sắc, tạo tiền đề cho những chiến công, thắng lợi tiếp theo của Nhân dân ta trong công cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc theo con đường độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội mà Chủ tịch Hồ Chí Minh kính yêu và Đảng ta, Nhân dân ta đã lựa chọn. Đến nay, 70 năm đã trôi qua, nhưng những bài học kinh nghiệm đó vẫn vẹn nguyên giá trị cho các thế hệ hôm nay và mai sau:
Một là, xác định đường lối kháng chiến đúng đắn, tiến hành chiến tranh nhân dân, toàn dân, toàn diện, vừa kháng chiến vừa kiến quốc, tạo nên sức mạnh tổng hợp chiến thắng mọi kẻ thù xâm lược.
Hai là, phát huy tinh thần yêu nước và ý chí quyết chiến, quyết thắng của toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta.
Ba là, phát huy tinh thần độc lập tự chủ, tự lực, tự cường, chủ động, linh hoạt, sáng tạo, xác định đúng đường lối chiến tranh cách mạng và nghệ thuật quân sự, nghệ thuật chiến tranh nhân dân của Việt Nam.
Bốn là, xây dựng và củng cố sức mạnh khối đại đoàn kết toàn dân tộc, nòng cốt là liên minh công nhân - nông dân - trí thức dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam quang vinh.
Năm là, kết hợp chặt chẽ, hài hoà, hiệu quả giữa sức mạnh dân tộc và sức mạnh thời đại, sức mạnh trong nước với sự ủng hộ, giúp đỡ của bè bạn quốc tế.
Thưa các vị khách quý và đồng bào, chiến sĩ cả nước!
Phát huy tinh thần chiến thắng Điện Biên Phủ, dân tộc ta đã giành được nhiều thắng lợi to lớn, viết tiếp bản hùng ca thời đại Hồ Chí Minh, lập nên những chiến công hiển hách như Chiến thắng "Điện Biên Phủ trên không" năm 1972 và đỉnh cao là Đại thắng mùa Xuân năm 1975 với Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử. Sau khi đất nước thống nhất, chúng ta vừa tập trung khôi phục kinh tế - xã hội, vừa chiến đấu bảo vệ biên cương của Tổ quốc, vừa làm tròn nghĩa vụ quốc tế cao cả, giúp Nhân dân Campuchia lật đổ và thoát khỏi chế độ diệt chủng.
Sau gần 40 năm tiến hành công cuộc đổi mới và hội nhập quốc tế dưới sự lãnh đạo của Đảng, Việt Nam đã đạt được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử, như đồng chí Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã phát biểu: "Với tất cả sự khiêm tốn, chúng ta vẫn có thể nói rằng: Đất nước ta chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay". Từ một nước nghèo nàn, lạc hậu, chịu nhiều đau thương, mất mát nhất sau Chiến tranh thế giới thứ II, Việt Nam đã trở thành nước đang phát triển có thu nhập trung bình; GDP bình quân đầu người tăng 58 lần so với thời kỳ đầu đổi mới, đạt 4.300 USD năm 2023; thuộc nhóm 40 nền kinh tế lớn nhất thế giới và nhóm 20 quốc gia có quy mô thương mại lớn nhất toàn cầu. Việt Nam được Liên hợp quốc công nhận là một trong những nước đi đầu trong thực hiện các Mục tiêu Thiên niên kỷ (MDG) và đang nỗ lực cho các Mục tiêu Phát triển Bền vững (SDG). Từ một nước bị bao vây, cấm vận, đến nay Việt Nam đã có quan hệ ngoại giao với 193 nước, mở rộng quan hệ kinh tế, thương mại với 230 quốc gia, vùng lãnh thổ và là hình mẫu của hàn gắn và khôi phục vết thương sau chiến tranh. Tình hình chính trị - xã hội ổn định; quốc phòng, an ninh được củng cố, tăng cường; trật tự an toàn xã hội được đảm bảo; độc lập, chủ quyền quốc gia được giữ vững; đối ngoại và hội nhập quốc tế được đẩy mạnh; gìn giữ được môi trường hòa bình, ổn định và thuận lợi cho hợp tác phát triển.
Thưa các vị khách quý và đồng bào, chiến sĩ cả nước!
Thời gian tới, tình hình thế giới, khu vực dự báo tiếp tục diễn biến nhanh, phức tạp, khó lường. Hòa bình, hợp tác và phát triển vẫn là xu thế lớn, song đang đứng trước nhiều khó khăn, thách thức; xu hướng phân tách, phân mảnh và cạnh tranh chiến lược ngày càng gay gắt; xung đột vũ trang, căng thẳng ở một số khu vực trên thế giới. Sau đại dịch COVID-19, kinh tế thế giới phục hồi chậm, các yếu tố rủi ro gia tăng. Trong khi đó, cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư phát triển mạnh mẽ, tạo ra cả cơ hội và thách thức đối với toàn thế giới; những yếu tố an ninh truyền thống và phi truyền thống như cạn kiệt tài nguyên, già hoá dân số, biến đổi khí hậu, thiên tai, dịch bệnh... ngày càng phức tạp, khó dự báo, đe doạ nghiêm trọng đến sự phát triển ổn định, bền vững của các quốc gia, trong đó có Việt Nam.
Trước tình hình đó, chúng ta tuyệt đối không được chủ quan, thỏa mãn, say sưa với những thành tựu, kết quả đã đạt được; nhưng cũng không bi quan, hoang mang, dao động trước những khó khăn, thách thức; ngược lại càng áp lực, càng phải nỗ lực, quyết tâm cao hơn; khơi dậy, thúc đẩy mạnh mẽ tinh thần quyết chiến, quyết thắng của Chiến dịch Điện Biên Phủ năm xưa; càng phấn khởi, tự hào về truyền thống lịch sử hào hùng của dân tộc, của các thế hệ đi trước, càng củng cố niềm tin và thấy rõ trách nhiệm với đất nước trong hiện tại và tương lai; vượt qua khó khăn, thách thức, quyết tâm phấn đấu cao nhất để tiếp tục lập nên những kỳ tích "Điện Biên Phủ mới" trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.
Thưa các vị khách quý và đồng bào, chiến sĩ cả nước!
Tự hào về Đảng Cộng sản Việt Nam quang vinh, về Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại, về dân tộc Việt Nam anh hùng, nghìn năm văn hiến, phát huy tinh thần chiến thắng Điện Biên Phủ, thời gian tới chúng ta nguyện tiến bước dưới lá cờ vẻ vang của Đảng chung sức, đồng lòng, củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc, tập trung: Xây dựng nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân, vì dân và xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa; thực hiện thật tốt chủ trương: Phát triển kinh tế - xã hội là nhiệm vụ trung tâm; xây dựng Đảng là then chốt, công tác cán bộ là "then chốt của then chốt"; phát triển văn hóa là nền tảng tinh thần, sức mạnh nội sinh; bảo đảm quốc phòng, an ninh là trọng yếu, thường xuyên để hiện thực hoá khát vọng xây dựng đất nước Việt Nam xã hội chủ nghĩa ngày càng giàu mạnh, dân chủ, phồn vinh, văn minh, hạnh phúc; trong đó tập trung thực hiện tốt những nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm sau đây:
1. Xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ gắn với chủ động, tích cực hội nhập quốc tế sâu rộng, toàn diện, thực chất, hiệu quả. Tiếp tục ưu tiên thúc đẩy tăng trưởng gắn với giữ vững ổn định nền tảng kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát, bảo đảm các cân đối lớn của nền kinh tế. Tạo chuyển biến rõ nét trong thực hiện các đột phá chiến lược về thể chế, nguồn nhân lực và kết cấu hạ tầng. Thúc đẩy mạnh mẽ công nghiệp hóa, hiện đại hóa; cơ cấu lại nền kinh tế gắn với đổi mới mô hình tăng trưởng; tăng cường ứng dụng khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo. Đẩy mạnh chuyển đổi số, chuyển đổi xanh, phát triển kinh tế tuần hoàn, kinh tế tri thức, kinh tế chia sẻ, liên kết vùng, đô thị hóa...
2. Phát triển văn hóa, xã hội đồng bộ, hài hòa, ngang tầm với phát triển kinh tế, chính trị với quan điểm xuyên suốt là: lấy con người làm trung tâm, là chủ thể, là mục tiêu, là động lực và là nguồn lực quan trọng nhất của sự phát triển nhanh, bền vững; không hy sinh tiến bộ, công bằng xã hội, an sinh xã hội và môi trường để chạy theo tăng trưởng kinh tế đơn thuần. Thực hiện tốt chính sách người có công với cách mạng; phát huy mạnh mẽ truyền thống "Uống nước nhớ nguồn", tinh thần yêu nước, ý thức trách nhiệm và khát vọng cống hiến, vươn lên, nhất là đối với thế hệ trẻ. Không ngừng nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của Nhân dân, không để ai bị bỏ lại phía sau. Tiếp tục củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc; làm tốt công tác dân tộc, tôn giáo; ưu tiên bố trí nguồn lực cho vùng đồng bào dân tộc thiểu số, vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo; trong đó có tỉnh Điện Biên, vùng Tây Bắc "phên giậu" thân yêu của Tổ quốc.
3. Củng cố, tăng cường quốc phòng, an ninh, bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ. Thực hiện chính sách quốc phòng "bốn không" (không tham gia liên minh quân sự; không liên kết với nước này để chống nước kia; không cho nước ngoài đặt căn cứ quân sự hoặc sử dụng lãnh thổ để chống lại nước khác; không sử dụng vũ lực hoặc đe dọa sử dụng vũ lực trong quan hệ quốc tế). Tập trung xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân, thế trận an ninh nhân dân gắn với thế trận lòng dân vững chắc. Xây dựng Quân đội nhân dân, Công an nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại, trong đó một số quân, binh chủng, lực lượng tiến thẳng lên hiện đại. Kết hợp chặt chẽ, hài hòa giữa bảo đảm quốc phòng, an ninh và phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội.
4. Thực hiện nhất quán đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, hòa bình, hữu nghị, hợp tác và phát triển; đa phương hóa, đa dạng hóa các quan hệ đối ngoại, là bạn tốt, là đối tác tin cậy và là thành viên có trách nhiệm với cộng đồng quốc tế. Xây dựng nền ngoại giao toàn diện, hiện đại với ba trụ cột là đối ngoại Đảng, ngoại giao Nhà nước và đối ngoại Nhân dân mang đậm bản sắc "Cây tre Việt Nam": gốc vững, thân chắc, cành uyển chuyển; góp phần gìn giữ môi trường hoà bình, ổn định, tạo điều kiện thuận lợi cho phát triển đất nước và nâng cao vị thế, uy tín của Việt Nam trên trường quốc tế.
5. Tiếp tục xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh, nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động và năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của tổ chức đảng, đảng viên. Kiên quyết, kiên trì ngăn chặn, đẩy lùi suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện "tự diễn biến", "tự chuyển hoá" trong nội bộ, gắn với đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh. Phát huy trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên; lan toả gương người tốt, việc tốt; tiếp tục đẩy mạnh đấu tranh phòng chống tham nhũng, tiêu cực; xây dựng đội ngũ cán bộ đủ phẩm chất, năng lực và uy tín, ngang tầm nhiệm vụ. Làm tốt công tác thông tin tuyên truyền, phát huy vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức chính trị - xã hội, góp phần củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc, tạo đồng thuận xã hội, phát triển nhanh, bền vững.
Thưa các vị khách quý và đồng bào, chiến sĩ cả nước!
Kỷ niệm 70 năm Chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ diễn ra vào thời điểm toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta đang nỗ lực hoàn thành các mục tiêu, nhiệm vụ của Đại hội lần thứ XIII của Đảng; đồng thời tích cực chuẩn bị tổ chức tốt Đại hội Đảng các cấp, tiến tới Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng. Thay mặt lãnh đạo Đảng, Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, tôi xin kêu gọi đồng bào, đồng chí, chiến sĩ cả nước và đồng bào ta ở nước ngoài cùng chung sức, đồng lòng, đồng tâm, hiệp lực; tận dụng mọi thời cơ, vận hội mới; nỗ lực vượt qua mọi khó khăn, thách thức; quyết tâm phấn đấu đến năm 2030, kỷ niệm 100 năm thành lập Đảng, nước ta trở thành nước đang phát triển, có công nghiệp hiện đại, thu nhập trung bình cao; đến năm 2045, kỷ niệm 100 năm thành lập Nước, trở thành nước phát triển, thu nhập cao.
Chúng ta tin tưởng và tự hào rằng, những trang sử hào hùng, vẻ vang của dân tộc ta với tinh thần Điện Biên Phủ bất diệt, những khó khăn được tháo gỡ, những thách thức sẽ vượt qua để viết tiếp những bản hùng ca chiến thắng với tất cả sự quyết tâm, sự kiên trì, bền bỉ, nhiệt huyết, tinh thần tự hào dân tộc, tình yêu quê hương, đất nước của các thế hệ hôm nay và mai sau, như lời dạy của Bác Hồ kính yêu:
"Không có việc gì khó,
Chỉ sợ lòng không bền,
Đào núi và lấp biển,
Quyết chí ắt làm nên".
Tự hào về Đảng quang vinh, Bác Hồ vĩ đại và Dân tộc Việt Nam anh hùng, tiếp tục trên chặng đường vinh quang dưới lá cờ vẻ vang của Đảng, toàn thể chúng ta, với tất cả trách nhiệm, lý trí và nghị lực, hãy sống, làm việc, cống hiến hết sức mình; hãy nỗ lực vươn lên bằng trí tuệ, niềm tin, lòng yêu nước nồng nàn trong từng nhịp đập của mỗi trái tim; hãy góp sức, nỗ lực nhiều hơn nữa cho Tổ quốc, cho xã hội, cho cộng đồng, cho gia đình và bản thân; hãy cùng nhau kề vai, sát cánh, quyết tâm xây dựng đất nước Việt Nam thân yêu ngày càng hùng cường, thịnh vượng, Nhân dân có cuộc sống ngày càng ấm no, hạnh phúc.
Tinh thần Chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ muôn năm!
Vinh quang đời đời thuộc về các Anh hùng liệt sĩ đã hy sinh vì độc lập, tự do của Tổ quốc, hạnh phúc của Nhân dân!
Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam muôn năm!
Đảng Cộng sản Việt Nam quang vinh muôn năm!
Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại sống mãi trong sự nghiệp của chúng ta!
Tôi xin được kính chúc quý vị đại biểu, khách quý, đồng bào, đồng chí, chiến sĩ cả nước, đồng bào ta ở nước ngoài mạnh khỏe, hạnh phúc và thành công!
Tôi xin trân trọng cảm ơn!"

Đề nghị xem xét, thi hành kỷ luật Ban Thường vụ Thành ủy TP Hồ Chí Minh nhiệm kỳ 2010-2015 và các đồng chí Lê Thanh Hải, Lê Hoàng Quân, Nguyễn Thành Phong

 


Trong các ngày 6 và 7/5, tại Hà Nội, Ủy ban Kiểm tra Trung ương đã họp Kỳ thứ 41. Đồng chí Trần Cẩm Tú, Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương Đảng, Chủ nhiệm Ủy ban Kiểm tra Trung ương chủ trì Kỳ họp.
Tại Kỳ họp này, Ủy ban Kiểm tra Trung ương đã xem xét, kết luận một số nội dung sau:
I- Thực hiện chỉ đạo của Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, sau khi xem xét kết quả kiểm tra khi có dấu hiệu vi phạm và kết quả kiểm điểm, đề nghị thi hành kỷ luật đối với Ban Cán sự đảng Ủy ban nhân dân TP Hồ Chí Minh, Ủy ban Kiểm tra Trung ương nhận thấy:
Ban cán sự đảng Ủy ban nhân dân TP Hồ Chí Minh đã vi phạm nguyên tắc tập trung dân chủ, quy chế làm việc; thiếu trách nhiệm, buông lỏng lãnh đạo, chỉ đạo để Ủy ban nhân dân Thành phố và nhiều tổ chức, cá nhân vi phạm nghiêm trọng các quy định của Đảng, pháp luật của Nhà nước trong quản lý, sử dụng đất, tài chính, tài sản, đầu tư, quy hoạch, xây dựng ở các dự án do Công ty Cổ phần Tập đoàn Vạn Thịnh Phát và ở các gói thầu, dự án do Công ty Cổ phần Tiến bộ Quốc tế (AIC) thực hiện; nhiều tổ chức đảng, đảng viên bị xử lý kỷ luật, nhiều cán bộ, đảng viên bị xử lý hình sự.
Những vi phạm nêu trên đã gây hậu quả rất nghiêm trọng, nguy cơ thất thoát, lãng phí rất lớn tiền, tài sản của Nhà nước và nguồn lực xã hội, gây dư luận xấu, ảnh hưởng đến uy tín của tổ chức đảng và chính quyền Thành phố, đến mức phải xem xét, xử lý kỷ luật.
Trách nhiệm chính đối với những vi phạm, khuyết điểm nêu trên thuộc về Ban Thường vụ Thành ủy nhiệm kỳ 2010-2015; Ban cán sự đảng Ủy ban nhân dân Thành phố các nhiệm kỳ 2011-2016, 2016-2021 và các đồng chí: Lê Thanh Hải, nguyên Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Thành ủy, nguyên Bí thư Ban Cán sự đảng, Chủ tịch Ủy ban nhân dân Thành phố; các đồng chí Lê Hoàng Quân, Nguyễn Thành Phong, nguyên Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Phó Bí thư Thành ủy, Bí thư Ban Cán sự đảng, Chủ tịch Ủy ban nhân dân Thành phố và một số tổ chức đảng, đảng viên khác.
Xét nội dung, tính chất, mức độ, hậu quả, nguyên nhân vi phạm; căn cứ quy định của Đảng,
1- Ủy ban Kiểm tra Trung ương quyết định thi hành kỷ luật:
- Cảnh cáo: Ban Cán sự đảng Ủy ban nhân dân TP Hồ Chí Minh các nhiệm kỳ 2011-2016, 2016-2021; Đảng ủy các Sở: Tài chính, Kế hoạch và Đầu tư nhiệm kỳ 2015-2020; Xây dựng, Tài nguyên và Môi trường nhiệm kỳ 2010-2015.
- Khiển trách: Đảng ủy các Sở: Xây dựng, Tài nguyên và Môi trường nhiệm kỳ 2015-2020 và đồng chí Nguyễn Toàn Thắng, Thành ủy viên, Bí thư Đảng ủy, Giám đốc Sở Tài nguyên và Môi trường.
2- Ủy ban Kiểm tra Trung ương đề nghị cấp có thẩm quyền xem xét, thi hành kỷ luật Ban Thường vụ Thành ủy TP Hồ Chí Minh nhiệm kỳ 2010-2015 và các đồng chí: Lê Thanh Hải, Lê Hoàng Quân, Nguyễn Thành Phong.
3- Ủy ban Kiểm tra Trung ương yêu cầu Ban Thường vụ Thành ủy, Ban Cán sự đảng Ủy ban nhân dân TP Hồ Chí Minh lãnh đạo, chỉ đạo khắc phục kịp thời các vi phạm, khuyết điểm được chỉ ra; xem xét, xử lý trách nhiệm các tổ chức, cá nhân có vi phạm theo thẩm quyền.
II- Xem xét Báo cáo đề nghị thi hành kỷ luật một số đảng viên vi phạm tại các Đảng bộ: Bắc Giang, Bắc Ninh, Vĩnh Phúc, Gia Lai, Văn phòng Chính phủ, Cơ quan Văn phòng Quốc hội, Ủy ban Kiểm tra Trung ương nhận thấy:
Các đồng chí: Mai Tiến Dũng, nguyên Ủy viên Trung ương Đảng, Bộ trưởng, Chủ nhiệm Văn phòng Chính phủ; Dương Văn Thái, Ủy viên Trung ương Đảng, Bí thư Tỉnh ủy, Trưởng Đoàn Đại biểu Quốc hội tỉnh Bắc Giang; Phạm Thái Hà, Ủy viên Ban Thường vụ Đảng ủy Cơ quan, Phó Chủ nhiệm Văn phòng Quốc hội, Trợ lý Chủ tịch Quốc hội; Hồ Văn Điềm, nguyên Ủy viên Ban Thường vụ Tỉnh ủy, Bí thư Đảng đoàn, Chủ tịch Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tỉnh Gia Lai; Lê Tuấn Hồng, nguyên Tỉnh ủy viên, Bí thư Huyện ủy Lương Tài, tỉnh Bắc Ninh và các đồng chí: Nguyễn Văn Khước, Tỉnh ủy viên, Ủy viên Ban Cán sự đảng, Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh, Chu Quốc Hải, nguyên Phó Bí thư Đảng ủy, Phó Giám đốc Sở Tài nguyên và Môi trường, Hoàng Văn Nhiệm, Phó Giám đốc Sở Tài chính tỉnh Vĩnh Phúc đã suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống; vi phạm nghiêm trọng quy định của Đảng, pháp luật của Nhà nước trong thực hiện chức trách, nhiệm vụ được giao, trong phòng, chống tham nhũng, tiêu cực; vi phạm quy định những điều đảng viên không được làm và trách nhiệm nêu gương; gây hậu quả rất nghiêm trọng, dư luận bức xúc, ảnh hưởng xấu đến uy tín của tổ chức đảng, cơ quan, đơn vị công tác, đến mức phải xem xét, xử lý kỷ luật.
Căn cứ quy định của Đảng,
1- Ủy ban Kiểm tra Trung ương quyết định thi hành kỷ luật Khai trừ ra khỏi Đảng đối với các đồng chí: Chu Quốc Hải, Hoàng Văn Nhiệm.
2- Ủy ban Kiểm tra Trung ương đề nghị cấp có thẩm quyền xem xét, thi hành kỷ luật các đồng chí Mai Tiến Dũng, Dương Văn Thái, Phạm Thái Hà, Hồ Văn Điềm, Lê Tuấn Hồng, Nguyễn Văn Khước.
III- Xem xét kết quả giám sát Ban Thường vụ Đảng ủy Quân khu 3, Ủy ban Kiểm tra Trung ương yêu cầu Ban Thường vụ Đảng ủy Quân khu 3 tiếp tục phát huy ưu điểm; nghiêm túc kiểm điểm, rút kinh nghiệm, khắc phục kịp thời các khuyết điểm, hạn chế trong lãnh đạo, chỉ đạo xây dựng và tổ chức thực hiện Quy chế làm việc; công tác cán bộ; trong quản lý, sử dụng đất, tài chính, tài sản, đầu tư; việc thực hiện nhiệm vụ cấp trên giao và việc kê khai tài sản, thu nhập.
IV- Cũng tại kỳ họp này, Ủy ban Kiểm tra Trung ương đã giải quyết khiếu nại kỷ luật đảng 1 trường hợp và xem xét, kết luận một số nội dung quan trọng khác.

Sập bẫy cuộc gọi giả mạo Công an, người phụ nữ ở Hà Nội bị lừa mất 15 tỷ đồng

Giả danh cơ quan Công an gọi điện để lừa đảo chiếm đoạt tài sản không phải thủ đoạn mới nhưng nhiều người vẫn mất cảnh giác, sập bẫy của các đối tượng. Mới đây, Công an quận Hà Đông, thành phố Hà Nội đang điều tra, xác minh vụ giả danh cán bộ Công an, lừa đảo chiếm đoạt tài sản với số tiền là 15 tỷ đồng.
Theo đó, vào ngày 05/4/2024, bà P (Sinh năm 1956, trú tại Hà Đông, Hà Nội) có nhận được điện thoại của một đối tượng tự xưng là cán bộ Công an. Đối tượng nói căn cước công dân của bà P có liên quan đến đường dây buôn bán ma túy, rửa tiền.
Nếu bà P không chứng minh được mình không liên quan thì vài ngày nữa sẽ bắt bà. Do lo sợ nên bà P đã chuyển tiền vào tài khoản của các đối tượng để xác minh. Bà P đã thực hiện 32 lần chuyển khoản với tổng số tiền là 15 tỷ đồng. Sau đó, bà P biết mình bị lừa nên đã cơ quan Công an trình báo.
Công an thành phố Hà Nội đề nghị người dân cần cảnh giác, tuyên truyền đến người thân, bạn bè về thủ đoạn trên, tránh mắc bẫy của đối tượng xấu.
Để làm việc với người dân, cơ quan Công an sẽ trực tiếp gửi giấy mời, giấy triệu tập hoặc gửi qua Công an địa phương; tuyệt đối không yêu cầu người dân chuyển tiền vào tài khoản ngân hàng. Khi phát hiện các trường hợp có dấu hiệu lừa đảo như trên, người dân cần báo ngay cho cơ quan Công an nơi gần nhất.

Lật tẩy những luận điệu sai trái về chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ

Những ngày qua, khi toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta tổ chức nhiều hoạt động thiết thực kỷ niệm 70 năm Chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ (7/5/1954 – 7/5/2024) thì trên mạng xã hội, các thế lực thù địch, phản động và một số kẻ thiếu thiện chí vẫn tìm cách xuyên tạc bản chất, tính chính nghĩa cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp mà đỉnh cao là Chiến thắng Điện Biên Phủ.
Những luận điệu xuyên tạc lịch sử
Họ cho rằng “đó chỉ là cuộc chiến của hai bên hiếu chiến chứ không phải cuộc chiến chính nghĩa bảo vệ nền độc lập, tự do”; “yếu tố quyết định là Việt Nam nhờ sự viện trợ từ bên ngoài chứ bộ đội, dân công thì không thể “làm nên chuyện””! Đây là những luận điệu nhằm công kích, xuyên tạc bản chất, tính chính nghĩa của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp; tạo sự hoài nghi trong quần chúng nhân dân về chiến thắng lịch sử vĩ đại của dân tộc; hạ thấp uy tín, vai trò lãnh đạo của Đảng, phủ nhận những hi sinh mất mát trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp của quân và dân ta.
Thậm chí càng gần đến ngày lễ lớn của dân tộc thì càng nhiều clip, video được chia sẻ trên mạng xã hội; nhiều trang báo của các thế lực thù địch đăng tải thông tin về Chiến thắng Điện Biên Phủ của nhân dân Việt Nam, xuyên tạc, bóp méo rằng: “Chiến thắng Điện Biên Phủ không gắn liền với sự lãnh đạo của Đảng Lao động Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh”; “Chiến thắng Điện Biên Phủ giành được do thực dân Pháp mắc những sai lầm chiến lược”; “Điện Biên Phủ là sản phẩm ưa thích bạo lực cách mạng của chủ nghĩa cộng sản”…
Họ xảo biện rằng, thực dân Pháp xâm lược Việt Nam là “khai hóa văn minh”; sự kiện Điện Biên Phủ đã chấm dứt “khai hóa văn minh”. Mặt khác, có những kẻ ảo vọng về lòng từ bi của chủ nghĩa thực dân, đế quốc khi cho rằng, làm gì phải phát động chiến tranh, chỉ cần đợi đến lúc nào đó thực dân họ khai hóa văn minh xong rồi sẽ trả lại chủ quyền đất nước!
Tính chất thâm độc, nguy hiểm trong âm mưu, thủ đoạn chống phá của số đối tượng xấu là hướng đến giới trẻ, nhất là những người thiếu hiểu biết lịch sử để gieo rắc tâm lý hoài nghi, thiếu niềm tin về tính chính danh, chính nghĩa của Chiến thắng Điện Biên Phủ. Việc đánh lận bản chất của cuộc chiến tranh là rất nguy hại vì thông qua đó, họ tìm cách hướng lái đến những nhận thức mơ hồ, lệch lạc, làm cho một số người nhẹ dạ, cả tin dễ mất cảnh giác, không nhận thức đúng bản chất chính nghĩa của cuộc kháng chiến chống thực dân, trong đó có Chiến dịch Điện Biên Phủ.
Bên cạnh việc tập trung xuyên tạc vào bản chất, tính chất chính nghĩa của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp của nhân dân ta, các thế lực thù địch, phản động còn vu cáo Việt Nam “hiếu chiến”, từ đó phủ nhận cuộc kháng chiến chính nghĩa bảo vệ nền độc lập, tự do của dân tộc ta. Một số bài viết phủ nhận công lao của Đảng, của Chủ tịch Hồ Chí Minh và vai trò chỉ huy tài ba của Đại tướng Võ Nguyên Giáp; tìm cách phủ nhận tấm gương anh dũng hy sinh của Anh hùng Tô Vĩnh Diện, Phan Đình Giót, Bế Văn Đàn… Mục đích của các thế lực thù địch, phản động nhằm làm cho người dân Việt Nam phân tâm, lung lay tư tưởng; gieo rắc tâm lý hoài nghi vào sự lãnh đạo của Đảng, nghệ thuật quân sự Việt Nam và sự phát triển của các lực lượng vũ trang cách mạng.
Các thế lực thù địch, các tổ chức phản động lưu vong và một số đối tượng chống đối còn lợi dụng tình hình hạn hán, xâm nhập mặn ở các tỉnh phía Nam thời gian qua để xuyên tạc rằng: “Thay vì tổ chức sự kiện to lãng phí tiền của, sao không lấy tiền đó cấp nước cứu dân”; “tiền thuế của dân, thay vì mang nước đến cho dân lại mang đi phô trương lực lượng”; “lực lượng Quân đội, Công an từ dân mà ra nhưng bỏ mặc dân chết khát”; “Đảng chỉ lo phô trương quyền lực thanh thế mà không đoái hoài gì đến người dân đói khát”…
Thậm chí, các đối tượng còn lồng ghép nội dung kích động, phân biệt, kỳ thị vùng miền, cho rằng người miền Nam chỉ giúp người miền Nam, rồi đòi chia lại “Bắc kỳ”, “Nam kỳ”… Từ đó cho rằng, người dân phải đứng lên đấu tranh lật đổ chế độ hiện tại ở Việt Nam thì mới có cơ hội được sống trong một chế độ tự do, dân chủ, có cuộc sống no ấm, hạnh phúc chứ không phải canh cánh lo toan với đói nghèo, thiên tai, lụt bão!
Với những luận điệu xuyên tạc, vu cáo nêu trên, các thế lực thù địch, các tổ chức phản động lưu vong và một số đối tượng chống đối đã cố tình “bẻ lái”, lồng ghép và đưa ra những thông tin xuyên tạc, sai sự thật hòng đánh tráo bản chất, xuyên tạc ý nghĩa, tầm vóc, giá trị lịch sử dân tộc và thời đại của Chiến thắng Điện Biên Phủ, xuyên tạc nghệ thuật quân sự Việt Nam, chiến công và sự hy sinh anh dũng của quân và dân ta; kích động, chia rẽ khối đại đoàn kết dân tộc, phủ định lịch sử dân tộc, lịch sử Đảng, lịch sử các lực lượng vũ trang cách mạng.
Từ truyền thống ngàn năm dựng nước và giữ nước của dân tộc đến chiến thắng lừng lẫy địa cầu
Từ ngày 13/3-7/5/1954, quân và dân ta dưới sự lãnh đạo của Đảng, đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh đã tiến hành trận quyết chiến chiến lược Điện Biên Phủ. Vượt qua bom đạn của kẻ thù, vượt qua điều kiện khắc nghiệt của địa hình, thời tiết, hàng ngàn tấn lương thực, thực phẩm, xăng dầu, vũ khí, đạn dược được quân và dân cả nước vận chuyển đến mặt trận Điện Biên Phủ cho bộ đội bằng những phương tiện thô sơ để góp phần vào thắng lợi cuối cùng. Kỳ tích đó nằm ngoài suy nghĩ của thế lực vốn lấy sức mạnh vũ khí làm cơ sở giải quyết chiến tranh và không hiểu được sự đồng lòng, ủng hộ toàn tâm, toàn ý của cả dân tộc.
Cùng với Chiến thắng Bạch Đằng (938) của Ngô Quyền, Chiến thắng Chi Lăng – Xương Giang (1427) của Lê Lợi – Nguyễn Trãi, Chiến thắng Ngọc Hồi – Đống Đa của Quang Trung (1789), Chiến thắng Điện Biên Phủ là một bản hùng ca bất hủ, là một trong những chiến thắng hiển hách của lịch sử hàng ngàn năm đấu tranh chống ngoại xâm dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt Nam. Là thắng lợi của khát vọng hòa bình, độc lập, tự do, của ý chí tự lực, tự cường; thắng lợi của phong trào giải phóng dân tộc, dân chủ nhân dân trên thế giới và của lương tri thời đại.
Chiến thắng Điện Biên Phủ đã giáng đòn quyết định, chấm dứt gần 100 năm Việt Nam là thuộc địa của Pháp, buộc Chính phủ Pháp phải ký Hiệp định Giơnevơ, chấm dứt chiến tranh ở Đông Dương, mở ra trang mới cho cách mạng Việt Nam; đồng thời là một sự kiện quan trọng báo hiệu sự sụp đổ của chủ nghĩa thực dân cũ trên phạm vi toàn thế giới. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng khẳng định: “Chiến thắng Điện Biên Phủ như là một cái mốc chói lọi bằng vàng của lịch sử”.
Trên phương diện quốc tế, cuộc kháng chiến trường kỳ, gian khổ, nhân dân Việt Nam đã nhận được sự ủng hộ mạnh mẽ, sự giúp đỡ quý báu của các nước XHCN anh em, nhận được sự ủng hộ của nhân dân các dân tộc bị áp bức ở châu Á, châu Phi, Mỹ La tinh, đặc biệt là liên minh chiến đấu giữa ba nước Đông Dương và phong trào đấu tranh của nhân dân tiến bộ trên thế giới, trong đó có nhân dân tiến bộ Pháp. Chiến dịch Điện Biên Phủ đã mang một ý nghĩa rất lớn và đã đi vào lịch sử nhân loại, bởi đây là lần đầu tiên quân đội của một nước từng là thuộc địa ở châu Á đánh bại đội quân hiện đại và tối tân của một cường quốc châu Âu, được hỗ trợ bởi đế quốc Mỹ trong một chiến dịch quân sự lớn.
Kết cục chiến dịch này được xem là một thảm họa bất ngờ đối với thực dân Pháp và cũng là một đòn giáng mạnh với thế giới phương Tây, đã đánh bại âm mưu duy trì chế độ thuộc địa ở Đông Dương của Pháp. Chiến thắng góp phần to lớn vào phong trào đấu tranh vì hòa bình, tiến bộ của nhân loại; thôi thúc, cổ vũ các nước thuộc địa ở châu Á, châu Phi và Mỹ Latin đứng lên tự giải phóng, thoát khỏi ách xâm lược của chủ nghĩa thực dân, đế quốc.
Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, bất cứ lịch sử xâm chiếm thực dân nào thì từ đầu đến cuối đều được viết bằng máu của những người bản xứ. Đó không phải là công cuộc “khai hóa văn minh” mà chỉ mượn đó làm tấm bình phong để thực hiện dã tâm áp bức, nô dịch. Trong “Tuyên ngôn độc lập” khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã lên án chế độ thực dân: “Về kinh tế, chúng bóc lột dân ta đến tận xương tủy, khiến cho dân nghèo nàn, thiếu thốn, nước ta xơ xác, tiêu điều. Chúng cướp không ruộng đất, rừng mỏ, nguyên liệu… Chúng đặt ra hàng trăm thứ thuế vô lý, làm cho dân ta, nhất là dân cày và dân buôn trở nên bần cùng. Chúng không cho các nhà tư sản ta được giàu lên. Chúng bóc lột công nhân ta một cách vô cùng tàn nhẫn”… Do đó, không thể gọi là “khai hóa văn minh” khi biến một dân tộc độc lập, có chủ quyền thành quốc gia thuộc địa, nửa phong kiến. Những kẻ rêu rao Pháp xâm lược Việt Nam là “khai hóa văn minh”, chiến thắng Điện Biên Phủ là chấm dứt sự “khai hóa văn minh”, đó là những luận điệu xuyên tạc sự thật, bẻ cong lịch sử.
70 năm, thời gian lùi xa nhưng ý nghĩa và bài học lịch sử của Chiến thắng Điện Biên Phủ vẫn còn vang vọng mãi, tiếp thêm sức mạnh, động lực cho toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta trên con đường đổi mới, hội nhập và phát triển, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Trong mỗi trái tim người Việt Nam nói chung và thế hệ trẻ ngày nay nói riêng đều dâng trào niềm kiêu hãnh, tự hào về chiến công hiển hách, tinh thần quật khởi của cha anh, có sức lan tỏa mạnh mẽ, trở thành một trong những động lực tinh thần to lớn giúp thế hệ trẻ ngày nay có thêm điểm tựa để tích cực rèn luyện, phấn đấu xây dựng quê hương, đất nước ngày càng giàu mạnh.
Ngày nay, Việt Nam và Pháp cũng đã vun đắp nên mối quan hệ Đối tác chiến lược, cùng hợp tác, phát triển. Trong dịp kỷ niệm 70 năm Chiến thắng Điện Biên Phủ, Bộ trưởng Quân đội Pháp Sébastien Lecornu cùng Quốc Vụ khanh phụ trách Cựu Chiến binh và Ký ức chiến tranh đã đến thăm Việt Nam và dự Lễ Kỷ niệm tháng tại Điện Biên Phủ, điều đó thể hiện tinh thần “khép lại quá khứ, hướng tới tương lai”, cùng hợp tác vì sự phát triển của quốc gia và nhân dân hai nước.
Đại sứ Pháp tại Hà Nội Olivier Brochet khẳng định, Pháp đánh giá cao vị thế, vai trò của Việt Nam và mong muốn tiếp tục thúc đẩy quan hệ Đối tác chiến lược giữa hai nước phát triển sâu rộng, toàn diện hơn nữa trong thời gian tới. Do đó, việc tổ chức lễ kỷ niệm hoàn toàn không phải là để chia rẽ mối quan hệ Việt – Pháp như những giọng điệu xảo trá, âm mưu, thủ đoạn thâm độc của một số đối tượng xấu tung ra.

Tự do tín ngưỡng, tôn giáo là sự thật không thể phủ nhận



Ngày 3/9/1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định tự do tín ngưỡng, tôn giáo là 1 trong 6 nhiệm vụ cấp bách của Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Người nhấn mạnh: “Thực dân và phong kiến thi hành chính sách chia rẽ đồng bào giáo và đồng bào lương, để dễ thống trị. Tôi đề nghị Chính phủ ta tuyên bố: TÍN NGƯỠNG TỰ DO và lương giáo đoàn kết”. Điều này tiếp tục được hiến định trong các bản Hiến pháp và hệ thống pháp luật của Việt Nam.

TÔN GIÁO LÀ MỘT THÀNH TỐ CỦA VĂN HÓA
Hồ Chí Minh đã khẳng định: “Vì lẽ sinh tồn cũng như mục đích của cuộc sống, loài người mới sáng tạo và phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn học, nghệ thuật, những công cụ cho sinh hoạt hằng ngày về mặc, ăn, ở và các phương thức sử dụng. Toàn bộ những sáng tạo và phát minh đó tức là văn hóa. Văn hóa là sự tổng hợp của mọi phương thức sinh hoạt cùng với biểu hiện của nó mà loài người đã sản sinh ra nhằm thích ứng những nhu cầu đời sống và đòi hỏi của sự sinh tồn”(1). Vì tự do tín ngưỡng, tôn giáo không chỉ là nhu cầu thiết yếu của nhân dân, mà còn là quyền thiêng liêng không ai được xâm phạm hay làm tổn hại, cho nên không ngừng nâng cao đời sống văn hóa, tinh thần cho nhân dân là một trong những mục tiêu quan trọng của sự nghiệp cách mạng do Đảng lãnh đạo.
Người cũng từng nói, “dân tộc có giải phóng thì tôn giáo mới giải phóng được. Lúc này chỉ có quốc gia, và không phân biệt tôn giáo nữa, mỗi người đều là công dân của nước Việt Nam, và có nhiệm vụ chiến đấu cho nền độc lập hoàn toàn của Tổ quốc”(2) và tôn trọng tự do tín ngưỡng, tôn giáo chính là tôn trọng nhu cầu tâm linh của một bộ phận nhân dân; là tôn trọng tự do, dân chủ trong đời sống văn hóa, tinh thần của xã hội. Cho nên, trên hành trình lãnh đạo nhân dân Việt Nam đấu tranh giành độc lập dân tộc cũng như kiên định xây dựng, bảo vệ và phát triển đất nước theo con đường xã hội chủ nghĩa, Chủ tịch Hồ Chí Minh, Đảng và Nhà nước Việt Nam đều nhất quán tôn trọng, bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của nhân dân; coi đoàn kết tôn giáo là một nội dung quan trọng trong chiến lược đại đoàn kết toàn dân tộc. Người không chỉ khẳng định “phải đoàn kết chặt chẽ giữa đồng bào lương và đồng bào các tôn giáo, cùng nhau xây dựng đời sống hòa thuận ấm no, xây dựng Tổ quốc”(3), trong đó có đoàn kết giữa các tôn giáo khác nhau và đoàn kết trong nội bộ từng tôn giáo, mà còn nhấn mạnh rằng, điều kiện đầu tiên để thực hiện đoàn kết tôn giáo chính là tôn trọng, bảo đảm quyền được tự do tín ngưỡng, tôn giáo. Đó chính là vừa tôn trọng sự khác biệt vừa phát huy những điểm tương đồng của từng tôn giáo và vận động, tập hợp đồng bào theo các tôn giáo khác nhau cùng đoàn kết trên một mẫu số chung là vì lợi ích của quốc gia, dân tộc, vì quyền lợi chính đáng của các tầng lớp nhân dân.
Việt Nam luôn chủ trương tôn trọng, bảo đảm tự do tín ngưỡng, tôn giáo và thực hiện đoàn kết tôn giáo; chống vi phạm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo dưới mọi hình thức. Đây không chỉ là biện pháp để quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo được tôn trọng và triển khai hiệu quả trong thực tế, mà còn là hiện thực hóa quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo được hiến định trong các bản Hiến pháp phù hợp điều kiện cụ thể của đất nước. Thực tế, tự do tín ngưỡng, tôn giáo đã được quy định rõ trong Điều 10, Hiến pháp năm 1946 “Công dân Việt Nam có quyền tự do tín ngưỡng”; trong Điều 26, Hiến pháp năm 1959 “Công dân nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa có quyền tự do tín ngưỡng, theo hoặc không theo một tôn giáo nào”; trong Điều 68, Hiến pháp năm 1980 “Công dân có quyền tự do tín ngưỡng, theo hoặc không theo một tôn giáo nào. Không ai được lợi dụng tôn giáo để làm trái pháp luật và chính sách của Nhà nước”; trong Điều 70, Hiến pháp năm 1992 “Công dân có quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, theo hoặc không theo một tôn giáo nào. Các tôn giáo đều bình đẳng trước pháp luật. Những nơi thờ tự của các tín ngưỡng, tôn giáo được pháp luật bảo hộ. Không ai được xâm phạm tự do tín ngưỡng, tôn giáo hoặc lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo để làm trái pháp luật và chính sách của Nhà nước”; trong Điều 24, Hiến pháp năm 2013: “1. Mọi người có quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, theo hoặc không theo một tôn giáo nào. 2. Các tôn giáo bình đẳng trước pháp luật. Nhà nước tôn trọng và bảo hộ quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo. 3. Không ai được xâm phạm tự do tín ngưỡng, tôn giáo hoặc lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo để vi phạm pháp luật”. Cùng với đó, quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của công dân còn được bảo đảm trong Điều 164, Bộ Luật Hình sự 2015 và trong các bộ Luật Dân sự, Luật Tố tụng hình sự, Luật đất đai, Luật Giáo dục... Cho nên, những luận điệu phản động rằng, Việt Nam “không có tự do tôn giáo”, Việt Nam “đàn áp tôn giáo”… dù biểu hiện dưới bất cứ “giọng lưỡi” nào thì cũng không thể che giấu được dã tâm của những kẻ cố tình bôi đen sự thật, xuyên tạc bản chất tình hình tôn giáo ở Việt Nam.
Hơn nữa, tự do tín ngưỡng, tôn giáo còn được thể hiện trong Sắc lệnh 234/SL của Chủ tịch nước về bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng ngày 14/6/1955 (5 chương, 16 điều) quy định trách nhiệm của Chính phủ trong việc bảo đảm quyền tự do tôn giáo của người dân; trách nhiệm, nghĩa vụ của chức sắc tôn giáo, tín đồ về hoạt động tôn giáo tại Việt Nam, trong đó Điều 1 ghi rõ: “Chính phủ bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng và tự do thờ cúng của nhân dân. Không ai được xâm phạm đến quyền tự do ấy. Mọi người Việt Nam đều có quyền tự do theo một tôn giáo hoặc không theo một tôn giáo nào”; trong Nghị quyết số 297-CP về một số chính sách tôn giáo của Chính phủ ngày 11/11/1977: “Ủy ban nhân dân các cấp có trách nhiệm phối hợp với Mặt trận và các cơ quan có liên quan tại địa phương, bảo đảm cho nhân dân thực hiện đầy đủ quyền tự do tín ngưỡng và quyền tự do không tín ngưỡng của mình”; trong Nghị định số 59/NĐ-HĐBT về hoạt động tôn giáo của Hội đồng Bộ trưởng ngày 21/3/1991: “Điều 6. Mọi công dân có quyền tự do theo hoặc không theo một tôn giáo, từ bỏ hoặc thay đổi tôn giáo. Mọi hành vi vi phạm quyền tự do đó đều bị xử lý theo pháp luật. Điều 7. Tín đồ có quyền thực hiện các hoạt động tôn giáo không trái với chủ trương chính sách và luật pháp của Nhà nước; có quyền tiến hành các nghi thức thờ cúng, cầu nguyện tại gia đình và tham gia các hoạt động tôn giáo tại nơi thờ tự. Không được truyền bá mê tín dị đoan, không cản trở việc lao động sản xuất, học tập và thi hành nghĩa vụ công dân”; trong Nghị định số 26/1999/NĐ-CP của Chính phủ về các hoạt động tôn giáo ngày 19/4/1999: “Điều 6. Mọi công dân có quyền tự do theo hoặc không theo một tôn giáo nào, từ bỏ hoặc thay đổi tôn giáo. Điều 7. 2. Tín đồ không được lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo làm trái pháp luật, không được hoạt động mê tín dị đoan”; trong Nghị quyết 25/NQ-TW Ban Chấp hành Trung ương về công tác tôn giáo ngày 12/3/2003: “Thực hiện nhất quán chính sách tôn trọng và bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, theo hoặc không theo một tôn giáo nào, quyền sinh hoạt tôn giáo bình thường theo đúng pháp luật. Các tôn giáo hoạt động trong khuôn khổ pháp luật, bình đẳng trước pháp luật”; trong Luật Tín ngưỡng, Tôn giáo 2016 và trong Nghị định số 162/2017/NĐ-CP quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Tín ngưỡng, Tôn giáo ngày 30/12/2017: “Nghị định này áp dụng đối với cơ quan, tổ chức, cá nhân trong việc bảo đảm và thực hiện quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo theo quy định của Luật”…
Đây chính là minh chứng cho thấy hệ thống pháp luật về hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo ngày càng được bổ sung, điều chỉnh, hoàn thiện và hệ thống pháp luật đó vừa tôn trọng, bảo đảm thực hiện quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, song cũng nghiêm cấm mọi hành vi phân biệt đối xử, kỳ thị vì lý do tín ngưỡng, tôn giáo hay những hoạt động lợi dụng quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo để gây phương hại an ninh, trật tự, an toàn xã hội, đi ngược lợi ích của Tổ quốc và nhân dân. Hơn nữa, Đảng và Nhà nước Việt Nam đã khẳng định: “Bảo đảm cho các tổ chức tôn giáo hoạt động theo đúng quy định pháp luật và hiến chương, điều lệ được Nhà nước công nhận. Phát huy những giá trị văn hóa, đạo đức tốt đẹp và các nguồn lực của các tôn giáo cho sự nghiệp phát triển đất nước”(4). Cho nên, những giọng điệu mượn danh kiểu “Hoa Kỳ nói Việt Nam đang hạn chế tự do tôn giáo” thực chất chỉ là một trong những kiểu “lu loa”, “mượn mồm dựng chuyện” của những kẻ phản động, thù địch, cơ hội với ý đồ bẻ cong sự thật, nhân danh nhân quyền để xuyên tạc Việt Nam “xâm phạm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo”!.
VIỆT NAM LUÔN TÔN TRỌNG VÀ BẢO ĐẢM TỰ DO TÍN NGƯỠNG, TÔN GIÁO
Việt Nam là một quốc gia đa tôn giáo, với gần 27 triệu tín đồ, chiếm 27% dân số cả nước, nên Đảng và Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam luôn dành sự quan tâm đặc biệt đến công tác bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo cho người dân. Ở Việt Nam “các tôn giáo có điều kiện phát triển vượt bậc. Nếu năm 2003, cả nước có 15 tổ chức thuộc 6 tôn giáo, 17 triệu tín đồ, với khoảng 20.000 cơ sở thờ tự, 34.000 chức sắc, 78.000 chức việc; thì đến năm 2021, Nhà nước đã công nhận 43 tổ chức thuộc 16 tôn giáo khác nhau, với trên 26 triệu tín đồ, 54.000 chức sắc, 135.000 chức việc, 29.000 cơ sở thờ tự”(5). Cũng ở Việt Nam, Đảng và Nhà nước không chỉ tôn trọng, bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của mọi người dân theo quy định của pháp luật, thực hiện tốt chiến lược đại đoàn kết toàn dân tộc, trong đó có đoàn kết tôn giáo, mà còn kiên quyết đấu tranh không khoan nhượng với các hành vi xuyên tạc tự do tín ngưỡng, tôn giáo; các hoạt động núp bóng tự do tôn giáo để gửi cái gọi là “phúc trình”, “thư ngỏ” nhằm thực hiện âm mưu “diễn biến hòa bình”, chống phá Đảng, Nhà nước và chế độ của các thế lực thù địch.
Thực tế, khi đã tuân thủ Hiến pháp và pháp luật Việt Nam, các chức sắc, tín đồ thuộc các tôn giáo đều được tôn trọng, được bảo đảm tự do sinh hoạt, thực hành các lễ nghi tôn giáo để biểu hiện đức tin của mình cũng như được các cơ quan chức năng tạo điều kiện tốt nhất để mở mang cơ sở vật chất, tu sửa nơi thờ tự, phát triển quan hệ giao lưu quốc tế… Tuy nhiên, pháp luật Việt Nam cũng nghiêm cấm mọi hành vi phân biệt đối xử, kỳ thị tín ngưỡng, tôn giáo; nghiêm cấm những tổ chức, cá nhân nhân danh tôn giáo để hoạt động đi ngược lợi ích của Tổ quốc và nhân dân, làm phương hại an ninh, trật tự an toàn xã hội hay trục lợi vì bất cứ lý do gì. Cho nên, không có chuyện “Việt Nam vẫn chưa đủ điều kiện để được công nhận có tự do tôn giáo”, mà chỉ có các hoạt động lợi dụng tôn giáo để chống phá Nhà nước bị nghiêm cấm như tổ chức phản động “Hội thánh Tin lành đấng Christ Việt Nam”, “Hội thánh Tin lành đấng Christ Tây Nguyên”… đã đội lốt tôn giáo.
Tự do tín ngưỡng, tôn giáo là sự thật, song tự do thực sự là tuân thủ Hiến pháp và pháp luật. Cụ thể, Điều 18, Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị được Liên hợp quốc phê chuẩn ngày 16/12/1966 ghi rõ: “1. Mọi người đều có quyền tự do tư tưởng, tự do tín ngưỡng và tôn giáo. Quyền này bao gồm tự do có hoặc theo một tôn giáo hoặc tín ngưỡng do mình lựa chọn, và tự do bày tỏ tín ngưỡng hoặc tôn giáo một mình hoặc trong cộng đồng với những người khác, công khai hoặc kín đáo, dưới các hình thức như thờ cúng, cầu nguyện, thực hành và truyền giảng”; đồng thời cũng khẳng định: “3. Quyền tự do bày tỏ tôn giáo hoặc tín ngưỡng chỉ có thể bị giới hạn bởi pháp luật và khi sự giới hạn đó là cần thiết để bảo vệ an ninh, trật tự công cộng, sức khoẻ hoặc đạo đức xã hội, hoặc để bảo vệ các quyền và tự do cơ bản của người khác”. Cho nên, cái gọi là “đạo Dương Văn Mình”, “Hội Thánh Tin Lành Đấng Christ Tây Nguyên”, “đạo Tin Lành người Hmong ở nhiều tỉnh miền Bắc và người Thượng ở khu vực Tây Nguyên” hay “chùa Thiên Quang và Sơn Linh thuộc Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất”… chính là các “tà đạo” đã đội lốt tôn giáo nhưng không có giáo lý, giáo luật, cơ cấu tổ chức riêng. Vì mục đích hoạt động chính của các tổ chức này là vụ lợi, trái pháp luật, nên không đủ điều kiện để được cấp đăng ký sinh hoạt tôn giáo tập trung, cấp đăng ký hoạt động tôn giáo, chứ không phải là các cấp chính quyền địa phương “gây khó” và “phân biệt” đối xử với các tôn giáo “không thuộc quản lý của Nhà nước”.
Chính sách nhất quán, đúng đắn của Đảng và Nhà nước Việt Nam là tôn trọng, bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của các công dân và các tôn giáo đều bình đẳng trước pháp luật, song “kiên quyết đấu tranh và xử lý nghiêm minh những đối tượng lợi dụng tôn giáo chống phá Đảng, Nhà nước, chế độ xã hội chủ nghĩa; chia rẽ, phá hoại đoàn kết tôn giáo và khối đại đoàn kết dân tộc”(6). Cho nên, không phải các giáo phái tôn giáo “không được công nhận” ở Tây Bắc, Tây Nguyên và ở một số vùng của Đồng bằng sông Cửu Long bị “chính quyền làm phiền”, mà chính là các giáo phái đó đã vi phạm nghiêm trọng Ðiều 5, Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016 khi nhân danh hoạt động tín ngưỡng, hoạt động tôn giáo để: “a) Xâm phạm quốc phòng, an ninh, chủ quyền quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, môi trường; b) Xâm hại đạo đức xã hội; xâm phạm thân thể, sức khỏe, tính mạng, tài sản; xúc phạm danh dự, nhân phẩm của người khác; c) Cản trở việc thực hiện quyền và nghĩa vụ công dân; d) Chia rẽ dân tộc; chia rẽ tôn giáo; chia rẽ người theo tín ngưỡng, tôn giáo với người không theo tín ngưỡng, tôn giáo, giữa những người theo các tín ngưỡng, tôn giáo khác nhau”.
Thực tế, tính đến tháng 12/2023, Nhà nước Việt Nam đã công nhận 38 tổ chức tôn giáo, cấp đăng ký hoạt động tôn giáo cho 2 tổ chức và 1 pháp môn tu hành thuộc 16 tôn giáo. Đồng thời, đáp ứng nhu cầu sinh hoạt tôn giáo của người dân, cũng trong năm 2023, Nhà xuất bản Tôn giáo đã cấp trên 690 quyết định xuất bản, với trên 2.400.000 bản in; trong đó có nhiều kinh sách của các tôn giáo đã được xuất bản bằng tiếng Anh, Pháp, tiếng dân tộc. Đặc biệt, năm 2023, có hơn 300 lượt chức sắc, chức việc, nhà tu hành các tôn giáo tham gia hội nghị, hội thảo, các khóa đào tạo về tôn giáo ở nước ngoài; gần 400 lượt người nước ngoài vào Việt Nam hoạt động tôn giáo… Đồng thời, Giáo hội Công giáo Việt Nam đăng cai tổ chức Hội nghị Liên Hội đồng Giám mục Á Châu năm 2023; Giáo hội Phật giáo Việt Nam đăng cai tổ chức Hội nghị Ban Thư ký Diễn đàn Phật giáo châu Á vì hòa bình; các Hội thánh Tin lành Việt Nam tổ chức Lễ hội “Xuân yêu thương”(7) … chính là hiện thực sinh động của tự do tôn giáo, tín ngưỡng ở Việt Nam.
Cuối cùng, cần khẳng định chắc chắn rằng, Đảng và Nhà nước Việt Nam không “can thiệp vào công việc nội bộ các tôn giáo”; cũng không “vi phạm quyền con người”, mà là vừa tôn trọng Điều 70 của Hiến pháp năm 2013, vừa thực thi nghiêm Điều 5 của Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016. Việc các báo cáo tự do tôn giáo của một số nước “cáo buộc” rằng Việt Nam “đàn áp tôn giáo”, vi phạm quyền “tự do tôn giáo” của người dân và tiếp tục hạn chế hoạt động có tổ chức của nhiều tôn giáo không phải là sự thật. Đồng thời, mọi sự xuyên tạc, bịa đặt về tự do tín ngưỡng, tôn giáo ở Việt Nam như Luật Tín ngưỡng, tôn giáo của Việt Nam là “bước thụt lùi” không chỉ “bóp nghẹt tôn giáo” mà còn “không phù hợp với công ước quốc tế về quyền con người” hay “quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo” của người dân bị xâm phạm; “chính quyền can thiệp vào nội bộ của tổ chức tôn giáo”; các tổ chức tôn giáo được Nhà nước công nhận pháp nhân “là tôn giáo quốc doanh” cùng luận điệu bôi đen cho rằng quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo ở Việt Nam là thứ “xin cho” giữa nhà nước và người dân và muốn được hoạt động tôn giáo thì phải “chịu sự kiểm soát của nhà nước” của các thế lực thù địch đều là phản động; đều là bịa đặt, bẻ cong sự thật về tự do tôn giáo, tín ngưỡng ở Việt Nam./.

Trách nhiệm người đứng đầu với nhân sự cấp phó

 Trách nhiệm người đứng đầu với nhân sự cấp phó



Bộ Chính trị vừa ban hành Quy định số 142-QĐ/TW về thí điểm giao quyền, trách nhiệm cho người đứng đầu trong công tác cán bộ.
Quy định cho phép người đứng đầu các cơ quan lãnh đạo của Đảng từ cấp huyện trở lên được quyền lựa chọn, giới thiệu nhân sự cấp phó giúp việc cho mình trong quá trình thực hiện nhiệm vụ lãnh đạo, điều hành cơ quan, đơn vị theo chức trách được Đảng, Nhà nước giao phó.
Quy định thí điểm này nhằm bảo đảm nguyên tắc: Đảng thống nhất lãnh đạo toàn diện công tác cán bộ và quản lý đội ngũ cán bộ; nguyên tắc tập trung dân chủ; công tâm, khách quan, công khai, minh bạch, giữ gìn đoàn kết nội bộ; phát huy trách nhiệm của người đứng đầu và cấp ủy, tổ chức Đảng, tập thể lãnh đạo cơ quan, đơn vị trong hệ thống chính trị.
Để chủ trương đi vào thực tiễn, đúng nguyên tắc, hạn chế sai sót, Quy định số 142 quy định cụ thể phạm vi, đối tượng, nguyên tắc, thẩm quyền, trách nhiệm của người đứng đầu trong thực hiện thí điểm về công tác cán bộ, gồm: Giới thiệu nhân sự bầu cử, bổ nhiệm cấp phó của đơn vị mình; bầu bổ sung ủy viên ban thường vụ cấp ủy cùng cấp; bổ nhiệm, miễn nhiệm cấp trưởng cấp dưới trực tiếp thuộc thẩm quyền quản lý.
Người đứng đầu có thể giới thiệu 1 nhân sự trong quy hoạch tại chỗ hoặc 1 nhân sự từ nguồn ở nơi khác cho 1 chức danh để cấp ủy, tổ chức Đảng, tập thể lãnh đạo cơ quan, đơn vị xem xét đưa vào danh sách, tiến hành quy trình công tác cán bộ. Khi khuyết ủy viên ban thường vụ, người đứng đầu được quyền giới thiệu nhân sự để ban thường vụ cho ý kiến, trình ban chấp hành, xin phép cấp có thẩm quyền trước khi bầu cử.
Người đứng đầu cũng được quyền xem xét bổ nhiệm, miễn nhiệm cấp trưởng của tổ chức, cơ quan, đơn vị ở cấp do mình trực tiếp quản lý theo quy định, trên cơ sở tiêu chuẩn, điều kiện, yêu cầu, nhiệm vụ của cơ quan, đơn vị và phải có sự thống nhất ý kiến với cấp ủy, tổ chức Đảng, tập thể lãnh đạo cơ quan, đơn vị có thẩm quyền.
Có thể thấy, với Quy định số 142, quyền hạn của người đứng đầu trong việc chọn nhân sự đã được nâng cao hơn. Đồng thời, cũng quy trách nhiệm đích danh người đứng đầu trong công tác này. Đó là, “người đứng đầu phải chịu trách nhiệm về quyết định của mình kể cả khi đã chuyển công tác hoặc nghỉ hưu với 2 trường hợp: Giới thiệu cán bộ để bầu cử, bổ nhiệm thiếu công tâm, khách quan, không đảm bảo điều kiện, phẩm chất chính trị, đạo đức, lối sống, năng lực và miễn nhiệm cán bộ không đủ căn cứ, thủ tục”.
Nếu so với Điều 21 Quy định số 80-QĐ/TW năm 2022: “Cấp ủy, tổ chức Đảng, tập thể lãnh đạo cơ quan, đơn vị và người đứng đầu chịu trách nhiệm về đánh giá, nhận xét, đề xuất, lựa chọn, giới thiệu nhân sự bổ nhiệm, giới thiệu ứng cử” thì Quy định số 142 thực sự là một đột phá của Đảng khi đề cao trách nhiệm của người đứng đầu trong việc lựa chọn nhân sự cấp dưới của mình, chấm dứt tình trạng tồn tại lâu nay là không cá nhân nào phải chịu trách nhiệm chính khi để xảy ra sai sót trong việc giới thiệu nhân sự. Mặc dù trong quy trình giới thiệu nhân sự ấy, đôi khi, tiếng nói quyết định đã thuộc về một cá nhân nắm quyền lãnh đạo cao nhất!
Với quy định này, Đảng ta tiếp tục khuyến khích tạo ra sự minh bạch, công tâm hơn trong công tác tổ chức cán bộ, đồng thời nâng cao ý thức trách nhiệm của người đứng đầu trong việc phát hiện, đào tạo, giới thiệu những nhân sự kế cận. Nếu được thực thi nghiêm túc, quy định này sẽ góp phần hình thành một đội ngũ lãnh đạo có đầy đủ phẩm chất đạo đức, năng lực, trung thực, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm, dám hy sinh vì lợi ích của đất nước, của Nhân dân. Đồng thời, thực hiện nghiêm các quy định về công tác tổ chức cán bộ, quy định về kiểm soát quyền lực và phòng-chống tham nhũng, tiêu cực trong công tác cán bộ.
Một chủ trương dù tiến bộ đến đâu, kết quả chủ yếu vẫn phụ thuộc vào cái tâm, cái tài của người thực hiện. Vì vậy, để Quy định số 142 đi vào cuộc sống đòi hỏi người đứng đầu phải nêu cao tinh thần trách nhiệm, phải có con mắt “tinh đời” khi lựa chọn, giới thiệu cấp phó, sao cho đủ tiêu chuẩn, điều kiện, phẩm chất chính trị, đạo đức, lối sống, năng lực công tác… Đảm bảo nguyên tắc công tâm, không vụ lợi, vì lợi ích chung; không viện cớ xây dựng “ê kíp” làm việc mà cố tình đưa những cán bộ chưa đạt chuẩn vào hàng ngũ lãnh đạo, nhằm kết bè kéo cánh, tư lợi, bất chấp hậu quả có thể gây ra cho đất nước.

Đại tá, nhạc sĩ Doãn Nho và cảm xúc ở chiến trường Điện Biên Phủ khi viết “Tiến bước dưới quân kỳ”



Một trong những ca khúc truyền thống của Quân đội nhân dân Việt Nam “Tiến bước dưới quân kỳ” của Đại tá, nhạc sĩ Doãn Nho được sáng tác từ cảm xúc của ông khi đặt chân tới đồi A1, chiến trường Điện Biên Phủ, 2 năm sau khi chiến dịch kết thúc.
Những ký ức về những năm tháng sống và chiến đấu, góp phần bảo vệ độc lập, tự do cho Tổ quốc của Đại tá quân đội, nhạc sĩ Doãn Nho dường như vừa mới ngày hôm qua, vẫn tràn đầy cảm xúc khi ông nhắc lại. Trong đó, những ký ức khi viết ca khúc "Tiến bước dưới quân kỳ" tại chiến trường Điện Biên Phủ vẫn khiến ông hết sức xúc động.
Năm 1954, nhạc sĩ mới 21 tuổi, khi đó ông đang công tác tại Đoàn Ca múa Tổng cục Chính trị. Ông kể lại, là một nhạc sĩ quân đội, cho nên ông đã được phân công tham gia phục vụ Điện Biên Phủ khi còn đang chuẩn bị chiến dịch cùng Đoàn.
Kỷ niệm đáng nhớ nhất với ông là những năm tháng công tác ở tuyến 2, là ATK Định Hóa, Thái Nguyên, nơi các đoàn quân đi qua khi tham gia chiến dịch Điện Biên Phủ, và khi chiến thắng trở về. Đây cũng là nơi Bác Hồ và Trung ương theo dõi, chỉ đạo cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp trường kỳ của cả dân tộc.
Đại tướng Võ Nguyên Giáp cũng ở đây trước khi chuyển đến rừng Mường Phăng, Điện Biên. “Chúng tôi ở tuyến 2 phục vụ quân ta đi qua ATK đến Điện Biên chiến đấu. Từ ATK, sau đó, chúng tôi cũng đón đoàn quân trực tiếp chiến đấu ở Điện Biên chiến thắng trở về”, nhạc sĩ kể.
Sau chiến thắng Điện Biên Phủ 2 năm, chiến trường Điện Biên Phủ chuyển thành nông trường. “Hơn 80 nghìn chiến sĩ Điện Biên Phủ lại về hậu phương, tham gia nhiệm vụ lao động, sản xuất. Tiếp nối họ là các thế hệ tân binh. Một lần nữa tôi lại được giao nhiệm vụ lên Điện Biên đi cùng đoàn tiền trạm cho đoàn ca múa của Tổng cục Chính trị lên đường phục vụ nông trường khi đó”.
Nhạc sĩ kể, nhiệm vụ của ông khi đó là phải viết ngay một bài hát để đoàn lên là có bài hát mới biểu diễn luôn. “Tôi rất sung sướng khi được trở lại Điện Biên, đặt chân lên chiến trường năm xưa, nơi rất nhiều chiến sĩ, văn nghệ sĩ đã từng sát cánh bên nhau góp phần vào thắng lợi của dân tộc”, nhạc sĩ kể.
Khi đến chân đồi A1, nhạc sĩ đã khóc, khi nhớ lại hình ảnh bộ đội ta đào gần như kín đồi A1 để đặt thuốc nổ, rất nhiều người đã hy sinh. “Khi đến đồi A1, bước từng bước để viết bài hát, tôi đã khóc. Chúng ta đã hy sinh rất lớn mới có được chiến thắng”, ông kể.
Không giấu được cảm xúc, người nhạc sĩ 91 tuổi đã cất tiếng hát: “Bước từng bậc/ Nhớ từng người/ Lòng đau đớn/ Uất ức/ Căm hờn/ Thù này phải trả/ Đồng chí ta ơi”.
Lúc đó, bài hát đã hình thành trong tâm trí nhạc sĩ Doãn Nho. Ông kể rằng, đã muốn đưa ý nghĩa "các thế hệ sau không bao giờ quên công ơn của các thế hệ đi trước, và dưới bóng quân kỳ là sự tiếp nối của nhiều thế hệ quân đội" vào bài hát.
Chính từ những suy nghĩ đó, một nét nhạc đã hình thành để viết ra “Tiến bước dưới quân kỳ”. Khi đã có được nét nhạc đó, nhạc sĩ tiếp tục hoàn chỉnh bài hát.
Ông cho biết, nét nhạc của bài hát mang bóng dáng, hình ảnh của các cựu chiến binh già dặn, từng trải chiến đấu, đồng thời có cả gương mặt của thế hệ tân binh khi tân binh tham gia vào quân đội sau chiến thắng Điện Biên Phủ: “Vừng đông đang hừng sáng, núi non xanh ngàn trùng xa, Tổ quốc bao la hiền hòa, Tươi thắm bóng cờ vờn bay trên cao, Muôn trái tim này hòa nhịp cùng ngàn lời ca trong sóng lúa, Lấp lánh sao bay trên quân kỳ”… Cứ như thế, hình ảnh tân binh và cựu binh, các thế hệ tiếp bước nhau dưới quân kỳ.
Nhạc sĩ Doãn Nho cho rằng, trong chiến đấu, các thế hệ văn nghệ sĩ luôn bám sát và cùng toàn dân, toàn quân ta góp phần vào chiến thắng. "Chúng ta đã hy sinh rất nhiều để có được chiến thắng. Tôi tin rằng thế hệ trẻ thấy rất rõ nhiệm vụ của mình đối với cha anh là xây dựng và bảo vệ Tổ quốc thân yêu”, nhạc sĩ Doãn Nho nhấn mạnh.

Trung sĩ Công an cứu người đuối nước, lan tỏa điều tốt đẹp trong cuộc sống

  Trung sĩ Công an cứu người đuối nước, lan tỏa điều tốt đẹp trong cuộc sống      Phát hiện 2 cháu bé đang chấp chới giữa dòng nước, không q...