29/4/24

Kỷ niệm 154 năm Ngày sinh V.I.Lênin (22/4/1870 - 22/4/2024): Những sáng tạo của Chủ tịch Hồ Chí Minh khi vận dụng chủ nghĩa Mác-Lênin



Chủ nghĩa xã hội là mục tiêu, lý tưởng của Đảng Cộng sản và là con đường tất yếu của cách mạng Việt Nam, phù hợp với xu thế phát triển của thời đại. Nhiều chuyên gia, nhà nghiên cứu khoa học cho rằng, việc vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác-Lênin là một trong những yếu tố, cơ sở lý luận quan trọng, bảo đảm thành công của sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta.
Cơ sở lý luận quan trọng
Phó Giáo sư, Tiến sĩ Nguyễn An Ninh (Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh) cho rằng, việc cách mạng Việt Nam lựa chọn “con đường đi theo chủ nghĩa Lênin” để giải phóng dân tộc và phát triển đất nước là thành tựu tư duy lý luận lớn nhất trong hành trình đi tìm đường cứu nước của Chủ tịch Hồ Chí Minh.
Dĩ nhiên, từ lý luận mang tính tổng quát của một học thuyết mang tính chất toàn thế giới, khi vận dụng vào thực tiễn của một quốc gia, bao giờ cũng cần tới một hàm lượng lớn của sự sáng tạo của Đảng và của lãnh tụ. Chính vì vậy, trong thực tiễn nghiên cứu lý luận hiện nay, tất cả các nước phát triển theo định hướng xã hội chủ nghĩa đều có một nhà tư tưởng. Họ là người đầu tiên nhận thấy, truyền bá và vận dụng thành công chủ nghĩa Mác - Lênin vào quá trình cách mạng của đất nước. Ở Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh chính là một trường hợp như vậy.
Theo Phó Giáo sư, Tiến sĩ Nguyễn An Ninh, Lênin coi lý luận về “sứ mệnh lịch sử toàn thế giới của giai cấp công nhân” là “trọng tâm và nội dung chủ yếu của học thuyết Mác”. Người cũng là lãnh tụ vĩ đại của giai cấp vô sản và Đảng Cộng sản Nga đã thực hiện thành công của Cách mạng Tháng Mười Nga (1917). Tóm lại, tư tưởng giải phóng giai cấp công nhân, giải phóng xã hội, giải phóng con người là trục chính của học thuyết này.
Chủ tịch Hồ Chí Minh đã vận dụng sáng tạo ở chỗ, lấy học thuyết về giải phóng giai cấp làm cơ sở lý luận cho quá trình giải phóng dân tộc. Trước đó, tất cả các nhà cách mạng Việt Nam đều trên lập trường “dân tộc chủ nghĩa”. Chính vì vậy mà đương thời, cụ Phan Bội Châu đã đánh giá “chủ nghĩa xã hội là chiếc xe tăng xông vào thành trì của chủ nghĩa dân tộc”. Đoàn kết toàn dân tộc trên cơ sở “công nông là gốc của cách mệnh”, “các giai cấp khác là bầu bạn” của cách mạng giải phóng dân tộc và xây dựng đất nước là một tư tưởng rất mới mẻ và rất sáng tạo của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Như thực tiễn đã xác nhận, đây là một tư tưởng rất đúng đắn vì phù hợp với điều kiện Việt Nam.
Một sáng tạo lớn cần phải kể tới là Chủ tịch Hồ Chí Minh rất quan tâm đến vấn đề trách nhiệm của các Đảng Cộng sản đương thời với vấn đề giải phóng dân tộc thuộc địa. Chính Lênin là người đầu tiên đề cập đến trách nhiệm này trong một văn kiện quan trọng của Đại hội lần thứ II Quốc tế Cộng sản (tháng 7/1920). Tại Đại hội này, V.I.Lênin đã trình bày “Sơ thảo lần thứ nhất những luận cương về vấn đề dân tộc và vấn đề thuộc địa” và đã được cả Đại hội ủng hộ. Từ đây, nhà cách mạng Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh đã đặt tiến trình giải phóng dân tộc trong tiến trình cách mạng vô sản và coi “cách mạng Việt Nam là một bộ phận của cách mạng thế giới”. Đảng Cộng sản Việt Nam do Người sáng lập và rèn luyện “là con nòi của Dân tộc”, là Đảng của giai cấp công nhân và đồng thời là “Đảng của dân tộc Việt Nam”. Giải phóng dân tộc để tạo tiền đề giải phóng các giai cấp bị áp bức bóc lột là một cách tiếp cận rất mới mẻ của Chủ tịch Hồ Chí Minh.
“Độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội” cũng là một ví dụ tiêu biểu tư duy sáng tạo Hồ Chí Minh. Nhân kỷ niệm một năm ngày V.I.Lênin qua đời, Nguyễn Ái Quốc đã viết bài “Lênin và các dân tộc thuộc địa”, trên tạp chí Đỏ (Liên Xô) số 2 (1925). Khẳng định những cống hiến lớn lao của Lênin, Người viết: “Trong lịch sử cuộc đời khổ đau và bị mất quyền của các dân tộc thuộc địa, Lênin là người sáng tạo ra cuộc đời mới, là ngọn hải đăng chỉ dẫn con đường đi tới giải phóng cho toàn thể nhân loại bị áp bức”. Từ tinh thần đó, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn gắn độc lập của dân tộc với tự do, hạnh phúc của nhân dân. Nước giành được độc lập thì nhân dân phải được hưởng những giá trị của chủ nghĩa xã hội: “Ai cũng có cơm ăn, áo mặc; ai cũng được học hành”.
Phù hợp với điều kiện của cách mạng Việt Nam
Phân tích về cách mạng vô sản và cách mạng giải phóng dân tộc, Phó Giáo sư, Tiến sĩ Lê Thị Thanh Hà, Phó Viện trưởng Viện Xã hội học và phát triển (Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh) cho biết: C.Mác và Ph.Ăngghen khẳng định, cách mạng vô sản sẽ nổ ra đồng loạt ở các nước tư bản phát triển như: Anh, Pháp, Mỹ. Đến Lênin, ông đã có bước phát triển khi cho rằng, cách mạng vô sản có thể nổ ra ở những nước chủ nghĩa tư bản phát triển trung bình như Nga và ở những nước thuộc địa, cách mạng vô sản chỉ có thể thành công khi cách mạng vô sản ở chính quốc thành công, sau đó trở lại cách mạng vô sản ở chính quốc.
Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng Cộng sản Việt Nam đã vận dụng sáng tạo quan điểm của Lênin khi cho rằng: “Cách mạng giải phóng dân tộc ở thuộc địa không nhất thiết phụ thuộc vào cách mạng vô sản ở chính quốc, mà có thể chủ động giành thắng lợi trước cách mạng vô sản ở chính quốc”. Đây là cái nhìn hết sức mới mẻ và độc đáo của Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng Cộng sản Việt Nam. Chính việc vận dụng sáng tạo lý luận này của chủ nghĩa Mác-Lênin vào cách mạng Việt Nam mà Việt Nam đã giành thắng lợi năm 1945.
Về đấu tranh giai cấp: Trong quá trình ra đi tìm đường cứu nước, qua khảo sát thực tế ở các nước trên các châu lục Âu, Phi, Mỹ và ngay cả trên đất Pháp, nhà cách mạng Hồ Chí Minh đã rút ra nhận xét rằng: Chủ nghĩa tư bản, chủ nghĩa thực dân là nguồn gốc mọi sự đau khổ của công nhân, nông dân lao động ở cả “chính quốc” cũng như ở thuộc địa; cách mạng tư sản Pháp cũng như cách mạng tư sản Mỹ là cách mạng không đến nơi; ''Muốn cứu nước và giải phóng dân tộc không có con đường nào khác con đường cách mạng vô sản”.
Tuy nhiên, Hồ Chí Minh không “bê” nguyên xi lý luận của chủ nghĩa Mác-Lênin vào Việt Nam, bởi theo Người, “Mác đã xây dựng học thuyết của mình trên một triết lý nhất định của lịch sử, nhưng lịch sử nào? Lịch sử châu Âu. Mà châu Âu là gì? Đó chưa phải là toàn thể nhân loại”. Vì vậy, chủ nghĩa Mác-Lênin cho rằng: vấn đề giai cấp quyết định vấn đề dân tộc: “Hãy xóa bỏ tình trạng người bóc lột người thì tình trạng dân tộc này bóc lột dân tộc khác cũng sẽ bị xóa bỏ”. Nhưng nhận xét về tính đặc thù của cuộc đấu tranh giai cấp ở phương Đông, Hồ Chí Minh viết: "Cuộc đấu tranh giai cấp diễn ra không giống như ở phương Tây, bởi vì xã hội Đông Dương, Ấn Độ hay Trung Quốc, xét về mặt cấu trúc kinh tế không giống như xã hội phương Tây thời trung cổ, cũng như thời cận đại và đấu tranh giai cấp ở đó không quyết liệt như ở đây"; “Nghe người ta nói giai cấp đấu tranh, mình cũng ra khẩu hiệu giai cấp đấu tranh, mà không xét hoàn cảnh nước mình như thế nào để làm cho đúng”. Từ đó, Hồ Chí Minh cho rằng, ở Việt Nam đấu tranh giai cấp phải gắn liền đấu tranh giải phóng dân tộc trên lập trường giai cấp vô sản.
Về lực lượng cách mạng: Theo chủ nghĩa Mác-Lênin, để cách mạng vô sản thành công cần có sự liên minh giai cấp: công nhân, nông dân và tầng lớp trí thức. Nhưng Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng Cộng sản Việt Nam khẳng định: Cách mạng giải phóng dân tộc “là việc chung cả dân chúng chứ không phải việc một, hai người”; “sĩ, nông, công, thương đều nhất trí chống lại cường quyền”; “công - nông là người chủ cách mệnh”, “công - nông là gốc cách mệnh”; "dân tộc cách mệnh chưa phân giai cấp, nghĩa là sĩ, nông, công, thương đều nhất trí chống lại cường quyền"…
Trong bối cảnh hiện nay, Đảng ta khẳng định: “Đại đoàn kết toàn dân tộc là đường lối chiến lược của cách mạng Việt Nam, là động lực và nguồn lực to lớn trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc”. Đại đoàn kết toàn dân tộc trên nền tảng liên minh giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức, dưới sự lãnh đạo của Đảng, là đường lối chiến lược của cách mạng Việt Nam; là nguồn sức mạnh, động lực chủ yếu và là nhân tố có ý nghĩa quyết định bảo đảm thắng lợi bền vững của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
“Trong cách mạng giải phóng dân tộc và trong xây dựng chủ nghĩa xã hội, Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng Cộng sản Việt Nam luôn vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác-Lênin và chính điều này đã đưa cách mạng Việt Nam đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác”, Phó Giáo sư, Tiến sĩ Lê Thị Thanh Hà nhấn mạnh.
Tạo nên sức mạnh của cả dân tộc
Phó Giáo sư, Tiến sĩ Nguyễn An Ninh cho rằng, việc vận dụng trung thành và sáng tạo chủ nghĩa Mác-Lênin có ý nghĩa rất quan trọng trên con đường xây dựng chủ nghĩa xã hội tại Việt Nam. Đầu tiên là giá trị định hướng chiến lược cho cách mạng Việt Nam. Từ khi lựa chọn “con đường đi theo chủ nghĩa Lênin”, cách mạng Việt Nam đã liên tục giành những thắng lợi vĩ đại và đưa cả dân tộc tiến cùng thời đại quá độ đi lên chủ nghĩa xã hội.
Chủ nghĩa Mác-Lênin khẳng định muốn có chủ nghĩa xã hội phải trên cơ sở vật chất của các cuộc cách mạng công nghiệp và sự phát triển của giai cấp công nhân; đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa để xây dựng cơ sở vật chất của xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam, “xây dựng giai cấp công nhân hiện đại, lớn mạnh”... là những giải pháp rất cơ bản được gợi ý từ chủ nghĩa Mác-Lênin.
Đặc biệt, vận dụng sáng tạo sáng tạo chủ nghĩa Mác-Lênin giúp cho vị thế làm chủ của giai cấp công nhân, của nhân dân mà sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội mang lại, phải thường xuyên được củng cố, phát triển. Đó là liên kết bền vững và cơ bản nhất tạo nên sức mạnh của cả dân tộc trong xây dựng chủ nghĩa xã hội.
Phó Giáo sư, Tiến sĩ Lê Thị Thanh Hà cho rằng, trên con đường xây dựng chủ nghĩa xã hội tại Việt Nam, chủ nghĩa Mác-Lênin luôn là nền tảng tư tưởng, là kim chỉ nam cho mọi hành động của cách mạng Việt Nam. Bởi, chủ nghĩa Mác-Lênin là một hệ thống các quan điểm lý luận và phương pháp luận khoa học được kết tinh và là đỉnh cao thành tựu trí tuệ của loài người, của tinh hoa văn hóa mà nhân loại đã sáng tạo ra. Chủ nghĩa Mác-Lênin là học thuyết duy nhất từ trước tới nay đặt ra mục tiêu, chỉ rõ con đường giải phóng triệt để cho giai cấp công nhân, nhân dân lao động và các dân tộc bị áp bức trên thế giới thoát khỏi tình trạng bị nô dịch và bóc lột, thoát khỏi đói nghèo và tha hóa về nhiều mặt, đã đem lại cuộc sống ấm no, tự do và hạnh phúc cho con người.

Kỷ niệm 154 năm Ngày sinh Vladimir Ilyich Lenin (22-4-1870 / 22-4-2024): Tư tưởng Lenin về xây dựng đội ngũ cán bộ

 


Vladimir Ilyich Lenin là người lãnh đạo nhân dân Nga tiến hành cuộc Cách mạng Tháng Mười năm 1917 thành công, lập ra Nhà nước xã hội chủ nghĩa đầu tiên trên thế giới. Di sản mà Lenin để lại cho nhân loại tiến bộ là vô cùng to lớn cả trên phương diện thực tiễn hoạt động cách mạng và lý luận, tư tưởng, trong đó có vấn đề xây dựng đội ngũ cán bộ.
Trong tác phẩm “Những nhiệm vụ trước mắt của chính quyền Xô viết”, Lenin vạch rõ nhiệm vụ đặc biệt quan trọng và cấp thiết là xây dựng đội ngũ cán bộ lãnh đạo cốt cán của Đảng Cộng sản và Nhà nước. Theo Lenin, lựa chọn đội ngũ cán bộ, nhất là những cán bộ nắm giữ vai trò lãnh đạo phải là người có phẩm chất chính trị tốt, có năng lực làm việc hay “uy tín chuyên môn” và phẩm chất đạo đức cách mạng. Người đã đưa ra những yêu cầu cụ thể về tiêu chuẩn khi xem xét, đánh giá cán bộ cần phải làm rõ: “a) Về mặt trung thực, b) Về lập trường chính trị, c) Về hiểu biết công việc, d) Về năng lực quản lý”. Người cũng nêu rõ, khi lựa chọn, bố trí cán bộ phải căn cứ “theo những tiêu chuẩn mới, đáp ứng với những nhiệm vụ mới” để phù hợp với sự phát triển của đất nước.
Về phẩm chất chính trị của người cán bộ, Lenin coi đây là tiêu chuẩn hàng đầu, là nhiệm vụ đặc biệt quan trọng đối với công tác cán bộ của Đảng. Người nêu rõ: “Nghiên cứu con người, tìm những cán bộ có bản lĩnh. Hiện nay, đó là then chốt; nếu không thì tất cả mọi mệnh lệnh và quyết định sẽ chỉ là mớ giấy lộn”. Lenin cho rằng, việc lựa chọn được những cán bộ có đủ phẩm chất chính trị vào vị trí lãnh đạo là khâu rất thận trọng và khó khăn, cho nên phải tìm hiểu kỹ về nhiều mặt của người cán bộ, tránh phiến diện, chủ quan.
Phẩm chất chính trị của người cán bộ không chỉ thể hiện ở lòng trung thành với mục tiêu, lý tưởng của Đảng, trung thành với Nhà nước, với chế độ xã hội chủ nghĩa và lợi ích của dân tộc, mà còn thể hiện ở năng lực đưa đường lối, chính sách của Đảng, Nhà nước vào cuộc sống một cách hiệu quả, tức phải “biến các sắc luật từ trạng thái là giấy lộn đầy bụi bặm… thành thực tiễn sống động”. Đồng thời, người cán bộ phải có tính kỷ luật cao, luôn tự giác, quyết liệt đấu tranh để “tẩy sạch” những tật xấu của mình và của tổ chức mình, để làm trong sạch nội bộ Đảng.
Trong xây dựng đội ngũ cán bộ, Lenin rất coi trọng công tác đào tạo, bồi dưỡng, gắn lý luận với thực tiễn, đưa ra yêu cầu đối với mỗi cán bộ, đảng viên phải “học, học nữa, học mãi”. Lenin chỉ rõ: “Người ta chỉ có thể trở thành người cộng sản khi biết làm giàu trí óc của mình bằng sự hiểu biết tất cả những kho tàng tri thức mà nhân loại đã tạo ra”. Lenin không chỉ quan tâm việc tự đào tạo, tự bồi dưỡng của đội ngũ cán bộ ở trong nhà trường, qua sách vở, mà phải đào tạo, bồi dưỡng trong môi trường thực tiễn, trong hoạt động lãnh đạo, quản lý và học tập cả kinh nghiệm của các chuyên gia tư sản. Người đưa ra yêu cầu bãi miễn những cán bộ nào không chịu học tập để trở thành cán bộ lãnh đạo, quản lý giỏi.
Đối với công tác đánh giá và lựa chọn cán bộ lãnh đạo, Lenin luôn nhấn mạnh cần bảo đảm minh bạch, khách quan, trung thực; phải dựa vào quần chúng, nắm thông tin từ quần chúng. Người căn dặn: “Quần chúng phải có quyền được thay đổi những người lãnh đạo của mình, phải có quyền được hiểu rõ và kiểm tra mỗi một bước nhỏ nhất trong hoạt động của những người đó”. Việc lựa chọn, bố trí và luân chuyển cán bộ được Lenin đặc biệt coi trọng. Người chỉ ra một nguyên tắc quan trọng trong lựa chọn và bố trí cán bộ là phải “đặt người đúng việc”, phải “nắm chắc được trong tay những bộ máy mà họ được đặt vào, chứ không phải là bộ máy nắm lấy họ”. Đồng thời, Lenin nêu rõ phải có sự luân chuyển cán bộ với cách thức cụ thể là cử cán bộ cấp cao ở Trung ương về công tác tại địa phương.
Chăm lo đến xây dựng đội ngũ cán bộ, Lenin còn chỉ ra phương châm phải bảo đảm tính liên tục và cơ cấu xã hội hợp lý. Theo đó, Lenin căn dặn Đảng phải thu hút thanh niên, phụ nữ, người dân tộc thiểu số tham gia nhiều hơn vào công việc chính trị, quản lý kinh tế, xã hội. Khi lựa chọn cán bộ trẻ, cán bộ nữ, các đảng viên mới được kết nạp để giao việc, phải chú trọng đến khả năng lãnh đạo công tác thực tiễn của họ, tránh rập khuôn, giáo điều.
Trong công tác cán bộ, nhất là trước mỗi kỳ đại hội Đảng, Lenin yêu cầu phải lựa chọn thật cẩn thận những cán bộ tốt cho cách mạng. Kiên quyết đấu tranh “không khoan nhượng” với tệ quan liêu, tham nhũng, bệnh giáo điều, bệnh “kiêu ngạo cộng sản” và mọi biểu hiện suy thoái, cơ hội; phải “đuổi ra khỏi đảng những kẻ gian giảo, những đảng viên cộng sản đã quan liêu hóa, không trung thực, nhu nhược” và tất cả những kẻ “đã len lỏi vào đảng”, “cản trở cuộc đấu tranh” của Đảng.
Từ thực tiễn cách mạng Việt Nam cho thấy, Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã vận dụng thành công tư tưởng, lý luận của Lenin về xây dựng đội ngũ cán bộ vào quá trình tổ chức, xây dựng Đảng ta, lãnh đạo nhân dân ta làm nên những thắng lợi có ý nghĩa lịch sử trong công cuộc cách mạng giải phóng dân tộc, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.
Hiện nay, Đảng ta đang chuẩn bị công tác tiến hành đại hội đảng bộ các cấp, tiến tới Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XIV, trong điều kiện tình hình thế giới có nhiều biến động, khó lường. Một trong những nhiệm vụ trọng tâm của Đảng là công tác nhân sự với việc xây dựng đội ngũ cán bộ, đặc biệt là cán bộ cấp chiến lược, là tinh hoa của Đảng, đòi hỏi phải thật sự vững vàng, có đủ bản lĩnh, phẩm chất, năng lực, trí tuệ, có uy tín cao để đảm đương và hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao. Đảng ta coi đây là nhiệm vụ “then chốt” của “then chốt”, có liên quan đến vận mệnh của Đảng, sự tồn vong của chế độ, đến sự nghiệp xây dựng, phát triển và bảo vệ đất nước trong tình hình mới.
Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng, Trưởng Tiểu ban nhân sự Đại hội XIV của Đảng đã nêu rõ yêu cầu: Công tác nhân sự Đại hội phải được tiến hành theo một quy trình chặt chẽ, khoa học và nhất quán, bảo đảm thật sự công tâm, trong sáng, khách quan, đặc biệt phải “có con mắt tinh đời” trong việc đánh giá, giới thiệu, lựa chọn những đồng chí tiêu biểu của Đảng về bản lĩnh chính trị, phẩm chất đạo đức và năng lực công tác; bảo đảm tiêu chuẩn chung của cán bộ; phải vừa có đức vừa có tài, trong đó đức là gốc. Đồng thời, kiên quyết không đưa vào quy hoạch những cán bộ có biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, “lợi ích nhóm”, mất đoàn kết, gây rối nội bộ, cơ hội chính trị như “con lươn, con chạch”.
Ðó cũng là sự trung thành và vận dụng sáng tạo tư tưởng, quan điểm của Lenin về xây dựng đội ngũ cán bộ, góp phần xây dựng Đảng ta trở thành một Đảng “trí tuệ, danh dự và lương tâm của thời đại”, xứng đáng với niềm tin yêu và sự mong đợi của toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta.

Phê phán luận điệu xuyên tạc quan điểm của V.I.Lênin “Một cuộc cách mạng chỉ có giá trị khi nó biết tự vệ”



Một trong những luận điểm khoa học cơ bản trong học thuyết của V.I.Lênin về bảo vệ Tổ quốc là: “Một cuộc cách mạng chỉ có giá trị khi nó biết tự vệ”. Tuy nhiên, sau khi Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa (XHCN) ở Đông Âu sụp đổ, các thế lực thù địch, phản động đã bóp méo, xuyên tạc quan điểm đúng đắn của Lenin.
Tỉnh táo trước âm mưu xuyên tạc không cần bảo vệ Tổ quốc XHCN
Ngay từ năm 1916, đêm trước của cuộc cách mạng vô sản ở nước Nga, Lênin chỉ rõ: “Không cầm vũ khí bảo vệ nước cộng hòa XHCN, thì chúng ta không thể tồn tại được. Giai cấp thống trị không bao giờ nhường chính quyền cho giai cấp bị trị. Nhưng giai cấp bị trị phải chứng minh trên thực tế rằng họ không những có khả năng lật đổ bọn bóc lột, mà còn có khả năng tự tổ chức, huy động hết thảy để tự bảo vệ lấy mình”; và: “Một cuộc cách mạng chỉ có giá trị khi nó biết tự vệ”. Bởi tự vệ là để bảo vệ chính quyền và bảo vệ các thành quả cách mạng đã giành được là một tất yếu khách quan, mang tính chính nghĩa, đó là một trong những vấn đề có tính quy luật của cách mạng vô sản. Lenin còn cho rằng, “không phải cách mạng có thể biết ngay được cách tự vệ”, vì “cách tự vệ là một khoa học và nghệ thuật của cách mạng, cách mạng chỉ có thể đi tới thành công đến nơi đến chốn khi biết cách tự vệ đúng".
Sau khi tư tưởng “Một cuộc cách mạng chỉ có giá trị khi nó biết tự vệ” của Lênin ra đời đã bị các thế lực thù địch, phản động chống phá quyết liệt. Chúng phủ nhận việc bảo vệ thành quả cách mạng của giai cấp vô sản khi tiến hành cách mạng thành công. Theo chúng, cách mạng vô sản giành thắng lợi xong không cần lập nên chính quyền nhà nước vì đã thành công rồi. Để đập tan luận điệu này, ngay sau khi Cách mạng Tháng Mười Nga thành công, Lenin chỉ rõ: “Kể từ ngày 25-10-1917, chúng ta là những người chủ trương bảo vệ tổ quốc. Chúng ta tán thành "bảo vệ tổ quốc", nhưng cuộc chiến tranh giữ nước mà chúng ta đang đi tới, là một cuộc chiến tranh bảo vệ tổ quốc XHCN, bảo vệ chủ nghĩa xã hội với tính cách là tổ quốc".
Thời gian qua, lợi dụng hệ thống XHCN thoái trào và sự biến động mau lẹ, khó lường của tình hình thế giới, các thế lực thù địch, phản động càng ra sức chống phá các nước XHCN còn lại, trong đó có Việt Nam. Chúng cho rằng hiện nay không cần phải bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN vì không còn kẻ thù xâm lược và nếu có bảo vệ thì chỉ bảo vệ Tổ quốc chứ không bảo vệ chế độ XHCN. Đây là luận điệu hết sức thâm độc, dễ gây sự ngộ nhận trong việc thực hiện nghĩa vụ quân sự bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN của công dân Việt Nam hiện nay.
Cả về phương diện lý luận và thực tiễn đã chứng minh rằng, mọi cuộc cách mạng nổ ra đều gắn với một giai cấp đứng ở vị trí trung tâm của thời đại và bao giờ vấn đề giành chính quyền cũng đều là vấn đề cơ bản của mọi cuộc cách mạng gắn với một quốc gia, dân tộc cụ thể. Như vậy, không bao giờ có Tổ quốc tách rời với một chế độ xã hội, mà bao giờ cũng gắn chặt với một chế độ xã hội nhất định như chế độ xã hội chiếm hữu nô lệ, chế độ xã hội phong kiến, chế độ xã hội tư bản chủ nghĩa, chế độ XHCN.
Nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc ở mỗi thời kỳ lịch sử đều gắn liền với chế độ ở giai đoạn lịch sử, quốc gia, dân tộc đó. Đáng tiếc là, ngoài sự chống phá của các thế lực phản động, thù địch, một số người trong nước vẫn ngộ nhận, chủ quan, không thấy hết các nguy cơ của đất nước và chế độ, không nhận thức được sự thống nhất giữa độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội ở nước ta nên có biểu hiện coi nhẹ nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc XHCN; không nhận thức đầy đủ mối quan hệ biện chứng giữa xây dựng và bảo vệ Tổ quốc XHCN. Thậm chí một số người Việt Nam tuy mang trong mình dòng máu Lạc Hồng và đang được hưởng thành quả cách mạng nhưng quay lưng lại với dân tộc, ra sức công kích, xuyên tạc đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, rắp tâm phá hoại thành tựu của công cuộc đổi mới đất nước, cuộc sống thanh bình của nhân dân.
Tăng cường sức mạnh tổng hợp, bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam XHCN
Việc trung thành, vận dụng sáng tạo tư tưởng của Lênin “Một cuộc cách mạng chỉ có giá trị khi nó biết tự vệ” có ý nghĩa rất quan trọng trong thời đại ngày nay. Vì vậy, chúng ta cần quán triệt, thực hiện hiệu quả Chiến lược bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới theo tinh thần Nghị quyết của Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng lần thứ 8, khóa XIII.
Thấm nhuần tư tưởng nêu trên của Lênin và kế thừa truyền thống, quy luật dựng nước đi đôi với giữ nước của dân tộc ta, ngay sau thắng lợi của cuộc Cách mạng Tháng Tám năm 1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã tuyên bố trước thế giới dứt khoát rằng: “Nước Việt Nam có quyền hưởng tự do và độc lập, và sự thật đã thành một nước tự do, độc lập. Toàn thể dân tộc Việt Nam quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mạng và của cải để giữ vững quyền tự do, độc lập ấy”. Kể từ đó, xuyên suốt cuộc trường chinh 30 năm dưới sự lãnh đạo của Đảng và Bác Hồ, nhân dân ta đã tiến hành thắng lợi hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược, thống nhất đất nước, thu non sông về một mối, cả nước cùng bước vào công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam XHCN.
Thực tiễn cho thấy, sự sụp đổ của chủ nghĩa xã hội ở Liên Xô và các nước Đông Âu cuối những năm 80, đầu những năm 90 của thế kỷ 20 đã chứng minh rằng việc giành chính quyền đã khó nhưng giữ gìn, sử dụng chính quyền để xây dựng và bảo vệ chế độ XHCN còn khó hơn nhiều. Một trong những nguyên nhân chủ yếu của sự sụp đổ đó là do sai lầm của các đảng cộng sản trong quá trình cải tổ, cải cách, sự mất cảnh giác và tự làm suy yếu, mất sức đề kháng từ bên trong của các đảng cộng sản và lực lượng cách mạng trước âm mưu, thủ đoạn thâm độc, xảo quyệt của các thế lực thù địch.
Đúng như Lênin đã từng cảnh báo: “Không ai có thể tiêu diệt được chúng ta ngoài những sai lầm của bản thân chúng ta nếu chúng ta không mắc sai lầm, tự đánh đổ mình”. Như vậy, bài học thành công và thất bại về công cuộc bảo vệ Tổ quốc XHCN từ sau Cách mạng Tháng Mười ở các nước XHCN không chỉ khẳng định tư tưởng của Lenin “Một cuộc cách mạng chỉ có giá trị khi nó biết tự vệ” mà còn là cơ sở để xác định ý chí, quyết tâm trong nâng cao ý thức trách nhiệm của mỗi chúng ta trong đấu tranh, phản bác quan điểm sai trái, thù địch hiện nay.
Giải pháp quan trọng hàng đầu là đẩy mạnh công tác tuyên truyền, giáo dục, nâng cao nhận thức cho cán bộ, đảng viên và nhân dân về sự cần thiết phải bảo vệ Tổ quốc gắn liền với bảo vệ chế độ XHCN, bảo vệ Đảng, Nhà nước và nhân dân. Đó là cơ sở để củng cố lập trường chính trị giai cấp, niềm tin và sự kiên định vào mục tiêu, lý tưởng của Đảng vào con đường đi lên chủ nghĩa xã hội của đất nước.
Bên cạnh đó, cần chú trọng giáo dục thống nhất nhận thức về đối tượng, đối tác và mục tiêu bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN. Sự phân định đối tác, đối tượng là rất cần thiết, tuy nhiên cần phải mềm dẻo, uyển chuyển trong nhận thức. Trong thực tế, ranh giới giữa đối tác và đối tượng đôi khi rất mong manh, có tính tương đối, nhận thức không phải dễ dàng, đơn giản. Do đó, cần xác định rõ những tiêu chí và quan điểm trong nhận thức và xử lý vấn đề này. Một trong những tiêu chí rất quan trọng để xác định đối tác đó là lợi ích. Bởi lợi ích (hiểu theo nghĩa đầy đủ của nó) phải được bảo đảm cho cả hai phía: Phía chúng ta và phía đối tác, làm sao để đôi bên cùng có lợi, phù hợp với pháp luật Việt Nam và thông lệ quốc tế. Tiêu chí “cùng có lợi” trở thành cơ sở của quan hệ giữa các đối tác. Trên cơ sở lợi ích chung của quốc gia, dân tộc, cần quán triệt sâu sắc quan điểm của Đảng và Nhà nước ta trong xác định đối tượng và đối tác là: Những ai chủ trương tôn trọng độc lập, chủ quyền, thiết lập và mở rộng quan hệ hữu nghị, hợp tác bình đẳng cùng có lợi với Việt Nam đều là đối tác của chúng ta. Bất kể thế lực nào có âm mưu và hành động phá mục tiêu của nước ta trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc đều là đối tượng đấu tranh.
Về mục tiêu bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN là toàn diện, bảo vệ cả phương diện tự nhiên-lịch sử và phương diện chính trị-xã hội trong chỉnh thể thống nhất bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN, theo tinh thần Nghị quyết Trung ương 8, khóa XIII đã chỉ ra: “Bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân, chế độ XHCN, nền văn hóa và lợi ích quốc gia, dân tộc; giữ vững môi trường hòa bình, ổn định chính trị, an ninh quốc gia, an ninh con người; xây dựng xã hội trật tự, kỷ cương, an toàn, lành mạnh để phát triển đất nước theo định hướng XHCN”.
Trong bối cảnh hiện nay, cần làm cho toàn Đảng, toàn dân, toàn quân nhận thức đúng phương châm bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN từ sớm, từ xa, giữ nước từ khi nước chưa nguy, với nhiều kế sách linh hoạt, mềm dẻo, kiên quyết tạo thành sức mạnh tổng hợp vững chắc trong công cuộc giữ nước.
Sức mạnh bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN là sức mạnh tổng hợp của khối đại đoàn kết toàn dân tộc, của cả hệ thống chính trị dưới sự lãnh đạo của Đảng, trong đó lực lượng vũ trang nhân dân giữ vai trò nòng cốt, trụ cột. Đó là sức mạnh tổng hợp của các yếu tố chính trị, quân sự, kinh tế, khoa học-công nghệ, văn hóa, đối ngoại, biểu hiện trong sức mạnh vật chất, tinh thần của khoảng 100 triệu dân Việt Nam trong nước và hơn 5 triệu người Việt Nam sinh sống, học tập, lao động, công tác ở nước ngoài luôn hướng về Tổ quốc. Đó là sức mạnh bên trong với sức mạnh bên ngoài, sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại trong bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN hiện nay.

Niềm tin son sắt với sứ mệnh bảo vệ Đảng



Cuộc thi viết “Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong tình hình mới” sắp bước vào mùa trao giải lần thứ ba. Sau mỗi lần tổ chức, chúng tôi luôn cảm thấy ấm lòng bởi đón nhận tình cảm, tâm huyết của đông đảo nhà báo, chuyên gia, nhà khoa học, cộng tác viên, bạn đọc ở khắp mọi miền đất nước dành cho cuộc thi giàu ý nghĩa chính trị-xã hội này.
Một ngày trung tuần tháng 11-2023, tòa soạn nhận được tác phẩm dự thi “Thắng lợi đường lối đối ngoại đúng đắn của Đảng Cộng sản Việt Nam” của cựu chiến binh, thương binh Nguyễn Ngọc Túy, 88 tuổi, cư trú tại số nhà 9B, đường Lê Thánh Tôn, thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa. Chữ ngoài bì thư được bác Túy viết bằng mực bút bi màu tím, nét chữ run song khá dễ đọc. Bài viết của tác giả khoảng hơn 2 trang đánh máy A4, lý giải về một trong những nguyên nhân cơ bản góp phần làm nên thắng lợi của dân tộc Việt Nam trong các cuộc kháng chiến chống thực dân, đế quốc thế kỷ 20 là do đường lối ngoại giao đúng đắn, sáng suốt của Đảng Cộng sản Việt Nam. Trong bài viết của bác Túy có trích dẫn nhận định của ông Henry Kissinger, cựu ngoại trưởng Mỹ, đại ý nói về sức mạnh văn hóa của dân tộc Việt Nam, lịch sử chống giặc ngoại xâm của dân tộc Việt Nam mà người Mỹ không hiểu nên họ đã bị thua trong cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam. Nội dung tác phẩm thể hiện tấm lòng trân trọng sâu sắc của người cựu chiến binh đối với Đảng Cộng sản Việt Nam.
Thể hiện tinh thần tâm huyết với cuộc thi, nhà báo Bùi Xuân Thanh (bút danh Hải Thanh), công tác tại Hội Văn học nghệ thuật tỉnh Vĩnh Phúc đã gửi về Ban tổ chức loạt bài 2 kỳ đăng trên Báo Vĩnh Phúc có tựa đề “Đại đoàn kết là biểu tượng nghệ thuật sinh động nhất của mọi thời đại”, đồng thời gửi kèm cuốn sách chính luận “Nhân lên niềm tin, đạo đức xã hội” do Nhà xuất bản Thông tin và Truyền thông xuất bản cuối năm 2023.
Với tấm lòng yêu mến cuộc thi, nhiều tác giả là cán bộ lãnh đạo, đại biểu Quốc hội, sĩ quan công an, giảng viên... đã chủ động gửi tác phẩm của mình được đăng tải trên các ấn phẩm báo chí về Ban tổ chức trong thời gian khá sớm, tiêu biểu như: Đồng chí Nguyễn Mạnh Cường, Phó chủ nhiệm Ủy ban Tư pháp của Quốc hội khóa XV; đồng chí Nguyễn Văn Long, Chánh văn phòng Ban Tôn giáo Chính phủ; Trung tá Hà Nguyên Bình Minh, Phòng Tham mưu Công an tỉnh Nghệ An; giảng viên Lê Thị Huỳnh Thu Hà, Khoa Nhà nước và Pháp luật (Trường Chính trị tỉnh Bến Tre)...
Không chỉ có các nhà báo, cộng tác viên, bạn đọc yêu mến cuộc thi mà nhiều lãnh đạo cơ quan báo chí cũng hăng hái động viên, khích lệ anh chị em phóng viên gửi tác phẩm dự thi. Tiêu biểu như Đại tá Đào Đức Hanh, Tổng biên tập Báo Quân khu 2; Thượng tá Phan Thái Hồng, Tổng biên tập Báo Quốc phòng Thủ đô; Nhà báo Hoàng Thị Nhung, Tổng biên tập Báo Vĩnh Phúc; Nhà báo Trịnh Văn Ánh, Tổng biên tập Báo Bắc Giang...
Số lượng 52 cơ quan báo chí trải dài trên trên khắp mọi miền đất nước, từ địa đầu phía Bắc Tổ quốc như các báo Hà Giang, Lào Cai, Cao Bằng đến các tờ báo ở phía Nam xa xôi như Bình Phước, Bạc Liêu; từ các cơ quan báo chí hàng đầu của Trung ương như: Báo Nhân Dân, Tạp chí Cộng sản đến những tờ báo của các tỉnh, thành phố lớn như: Hà Nội, TP Hồ Chí Minh, Thanh Hóa, Nghệ An và cả những tạp chí chuyên ngành của các hội xã hội-nghề nghiệp như: Tạp chí điện tử Da cam Việt Nam (Hội Nạn nhân chất độc da cam/dioxin Việt Nam), Tạp chí điện tử Sông Lam (Hội Văn học nghệ thuật tỉnh Nghệ An), Tạp chí điện tử Chất lượng và Cuộc sống (Hội Khoa học và kỹ thuật về Tiêu chuẩn và chất lượng Việt Nam)... Điều đó thêm một lần minh chứng cuộc thi ngày càng có sức lôi cuốn, hấp dẫn đối với các cơ quan báo chí và những người làm báo trong cả nước.

Điện Biên quá tải lưu trú, người dân dọn nhà, lắp điều hòa đón du khách miễn phí



Lượng khách đến TP Điện Biên Phủ (tỉnh Điện Biên) tăng đột biến, nhiều người dân sửa sang nhà cửa, giặt chăn ga, lắp điều hòa để du khách đến với tỉnh có trải nghiệm tốt nhất.
TP. Điện Biên Phủ những ngày này lượng khách tăng vọt khiến khách sạn, nhà nghỉ luôn trong tình trạng "cháy phòng". Người dân thành phố đã sẵn sàng chung tay cùng tỉnh để du khách có chỗ lưu trú khi về dự sự kiện Năm du lịch Quốc gia - Điện Biên 2024 và kỷ niệm 70 năm Chiến thắng Điện Biên Phủ.
Ước tính, lượng khách đổ về du lịch Điện Biên có thời điểm tăng 200-300% so với cùng kì những năm trước. Thống kê đến ngày 9/4 của tỉnh Điện Biên cho thấy, toàn tỉnh đón trên 440.000 lượt du khách tham quan du lịch.
Để đáp ứng nhu cầu của du khách đến với Điện Biên, tỉnh triển khai phương án tăng sức chứa của các cơ sở lưu trú, đồng thời huy động từ nguồn lực trong dân.
Cụ thể, Sở Văn hoá - Thể thao và Du lịch tỉnh đã lập danh sách hơn 100 hộ gia đình đủ điều kiện tham gia phục vụ khách lưu trú để kết nối, hỗ trợ khách du lịch đang khó khăn về địa điểm lưu trú khi đến với Điện Biên.

 Tự hào Việt Nam



9 gương mặt thể thao Việt Nam giành vé dự Olympic Paris 2024 (tính đến 21/4/2024)
Đó là các vận động viên: Nguyễn Thị Thật (xe đạp), Nguyễn Huy Hoàng (bơi lội), Trịnh Thu Vinh và Lê Thị Mộng Tuyền (bắn súng), Võ Thị Kim Ánh (boxing), Trịnh Văn Vinh (cử tạ), Nguyễn Thùy Linh (cầu lông), Nguyễn Thị Hương (canoe) và Phạm Thị Huệ (Rowing).

Phản bác luận điệu xuyên tạc nguyên tắc tập trung dân chủ của Đảng

 Phản bác luận điệu xuyên tạc nguyên tắc tập trung dân chủ của Đảng



Mới đây, trên nhiều trang mạng phản động, Nguyễn Huyền đã đăng bài viết “Nguyên tắc tập trung dân chủ trong Đảng và những lỗ hổng” với nội dung xuyên tạc nguyên tắc tập trung dân chủ trong tổ chức và hoạt động của Đảng. Tác giả đã suy diễn rằng, có nhiều “lỗ hổng” trong thực hiện nguyên tắc này trên thực tế như: “cá nhân người đứng đầu hoặc nhóm thiểu số quyền lực lấn át tập thể”, rằng việc thảo luận, biểu quyết trong Đảng chỉ là “theo ý định có sẵn” và “những ý kiến thuộc về thiểu số sẽ bị loại bỏ hoặc ngăn chặn” … Đây là những lập luận phi khoa học, phi thực tiễn, mang ý đồ chống phá Đảng Cộng sản Việt Nam. Cần thấy rằng:
Thứ nhất, nguyên tắc tập trung dân chủ là nguyên tắc rường cột để xây dựng Đảng thành một tổ chức chiến đấu chặt chẽ, vừa phát huy sức mạnh của mỗi người, vừa tạo nên sức mạnh tổng hợp của tổ chức. Nguyên tắc đó quy định cơ cấu, hình thức tổ chức của Đảng, phương thức, chế độ thiết lập các cơ quan lãnh đạo của Đảng, xác lập các quy tắc giải quyết các mối quan hệ trong nội bộ Đảng. Nguyên tắc này chi phối các nguyên tắc khác, làm cho Đảng được xây dựng thành một đội ngũ có kỷ luật chặt chẽ, có sức chiến đấu cao. Thực hiện đúng nguyên tắc tập trung dân chủ vừa phát huy được tính tích cực, chủ động, sáng tạo, trách nhiệm cao của mỗi cán bộ, đảng viên, tổ chức đảng, vừa tập trung được trí tuệ và sức mạnh vật chất của toàn Đảng. Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: Đảng ta tuy nhiều người, nhưng khi tiến đánh thì chỉ như một người. Sức mạnh của Đảng là sự thống nhất về chính trị, tư tưởng, tổ chức và đạo đức. Sự thống nhất giữ nguyên, có thể vững chắc và biến thành hiện thực khi được bảo đảm bằng sự thống nhất về mặt tổ chức thông qua thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ. Tập trung dân chủ là cơ sở của kỷ luật đảng, bảo đảm cho Đảng thực sự là một chỉnh thể có tổ chức chặt chẽ, đồng bộ, thống nhất từ Trung ương tới cơ sở.
Thứ hai, thực tiễn 94 năm lãnh đạo cách mạng Việt Nam đã khẳng định, Đảng Cộng sản Việt Nam là một tổ chức thống nhất ý chí và hành động, không gì chia rẽ được. Đảng không dung thứ cho sự tồn tại của các phe nhóm, bè phái, “lợi ích nhóm”. Đảng lấy tự phê bình và phê bình là nguyên tắc sinh hoạt đảng, là quy luật tồn tại và phát triển của Đảng. Những vi phạm của một số cán bộ, đảng viên có chức, có quyền vừa qua chỉ là hiện tượng, không phải bản chất, đó chỉ là những con sâu, mọt bị tha hóa, đã được Đảng sử dụng quyền lực tập trung dân chủ xử lý nghiêm minh, thích đáng, có tác dụng răn đe, cảnh tỉnh cán bộ, đảng viên, góp phần giữ vững niềm tin của nhân dân đối với Đảng. Bên cạnh đó, trong nguyên tắc tập trung dân chủ, thiểu số phục tùng đa số là quy định bắt buộc, một trong những nội dung cốt lõi, đặc trưng của tập trung trong Đảng, thể hiện ý chí, sức mạnh tập thể, tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách. Điều lệ Đảng Cộng sản Việt Nam quy định: “Thiểu số phục tùng đa số, cấp dưới phục tùng cấp trên, cá nhân phục tùng tổ chức, các tổ chức trong toàn Đảng phục tùng Đại hội đại biểu toàn quốc và Ban Chấp hành Trung ương”. Đồng thời, trong nội dung nguyên tắc tập trung dân chủ đã quy định chế độ bảo lưu ý kiến thuộc về thiểu số. Do đó, không thể nói nguyên tắc tập trung dân chủ làm triệt tiêu cái mới, cái sáng tạo. Trên thực tế, nhiều ý kiến thuộc về thiểu số được bảo lưu, bảo đảm quyền của đảng viên.
Thực tiễn quá trình lãnh đạo, chỉ đạo cách mạng Việt Nam và thực hành nguyên tắc tập trung dân chủ của Đảng ta là minh chứng hùng hồn bác bỏ mọi luận điệu xuyên tạc vô căn cứ của Nguyễn Huyền.

Trung sĩ Công an cứu người đuối nước, lan tỏa điều tốt đẹp trong cuộc sống

  Trung sĩ Công an cứu người đuối nước, lan tỏa điều tốt đẹp trong cuộc sống      Phát hiện 2 cháu bé đang chấp chới giữa dòng nước, không q...