21/11/22

CÓ LẼ PHẢI CHẲNG SỢ ĐIỀU NGANG TRÁI

 Đã và đang có người “tát nước theo mưa”, “mượn gió bẻ măng” theo kiểu “đục nước béo cò”, vin vào cớ Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đến thăm chính thức nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa ngay sau Đại hội lần thứ XX của Đảng Cộng sản Trung Quốc theo lời mời của ông Tập Cận Bình sau ngày ông được bầu lại làm Tổng Bí thư nhiệm kỳ mới để tuyên truyền sai trái rằng, “Việt Nam đã chọn phe”, “đã ly dị phương Tây”, “đi theo Trung Quốc”; “Đảng Cộng sản Việt Nam đánh đổi vị thế độc lập chủ quyền để lấy thứ hòa bình viễn vông và một thứ hữu nghị sáo rỗng”, v.v..

Đây là những quan điểm lệch lạc, thiếu thiện chí, thể hiện rõ tầm nhìn hạn hẹp, chủ quan, duy ý chí, “chỉ thấy cây mà không thấy rừng”, nặng về áp đặt thiên kiến cá nhân, mang nặng tính khiêu khích, kích động, gây chia rẽ, “thổi lửa hận thù”, làm mất hòa khí, tước bỏ mọi sự cố gắng xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc của nhân dân ta.

Ai có thiện chí, còn có lương tâm, bộ não còn hoạt động bình thường thì phải hiểu rằng, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đến thăm chính thức Trung Quốc là xuất phát từ lời mời rất trân trọng, mến khách của đồng chí Tổng Bí thư, Chủ nước Tập Cận Bình và Đảng Cộng sản Trung Quốc. Đây là thiện chí của người đứng đầu Đảng, đứng đầu Nhà nước và Nhân dân Trung Quốc ngay sau Đại hội lần thứ XX của Đảng Cộng sản nước bạn. Chúng ta không tự đến được và theo phép lịch sự của một dân tộc có văn hóa, có văn hiến, chúng ta hoàn toàn không nên từ chối khi bạn có thiện chí thân thiện và lòng tốt nở hoa.
Chuyến thăm này không chỉ khẳng định mối quan hệ song phương giữa Việt Nam – Trung Quốc được nâng lên một tầm cao mới, mà còn phản ánh tình đoàn kết bền chặt giữa hai Đảng, hai Nhà nước, hai dân tộc, từ sự tin cậy lẫn nhau về chính trị đến kết nối phát triển kinh tế, văn hóa ngày càng được củng cố, tăng cường.
Vì vậy, nhiều báo, đài có uy tín ở Việt Nam, Trung Quốc và nhiều nước trên thế giới đã giới thiệu loạt bài viết chuyên sâu; phân tích, tổng hợp và đánh giá lịch sử sự ra đời, mối quan hệ, hợp tác nhiều mặt giữa hai Đảng, hai Nhà nước với những nhận định sắc sảo về tầm nhìn, mối quan hệ, hợp tác chiến lược giữa hai Đảng, hai Nước. Đồng thời, phản ánh nguyên tắc, mối quan hệ khăng khít trên ý thức hệ Mác – Lênin giữa Đảng Cộng sản Trung Quốc và Đảng Cộng sản Việt Nam, trên lập trường chủ nghĩa xã hội và mục tiêu, con đường xây dựng chủ nghĩa xã hội dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản và Nhà nước xã hội chủ nghĩa ở mỗi nước.
Những ý kiến “bàn vào bàn ra câu chuyện Việt Nam chọn phe, theo phái Trung Quốc”, “chối bỏ, khước từ thiện chí của Mỹ và phương Tây” với cách nhìn phiến diện, một chiều, thậm chí tỏ rõ thái độ phản ứng, xuyên tạc chuyến thăm Trung Quốc của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng là rất đáng trách, phải đấu tranh vạch trần sự sai trái ấy. Họ đã và đang “cầm gậy chọc bánh xe”, cản trở mối quan hệ đang phát triển tốt đẹp giữa hai Đảng, hai Nhà nước, hai dân tộc vì hòa bình, thịnh vượng, phồn vinh và hạnh phúc của Nhân dân mỗi nước.
Hành vi, thái độ chống đối của những người này thực chất là “trả thù quá khứ”, diễn lại tích cũ chiêu trò mới đầy tính kích động bạo lực “bài Hoa, thoát Trung”; cố tình “đội mũ ni che tai”, phớt lờ sự thật đang sống, tiếp tục cố gắng để sống hòa bình, hữu nghị, hợp tác và phát triển của Nhân dân hai nước, hai dân tộc nên buông lời nhảm nhí, phá đám, buông lời “vu khống, nói lấy được”, nhưng lại thiếu suy nghĩ, chẳng có thiện chí vì hòa bình. Luận điệu sai trái của họ đầy tính vu cáo, kích động, giống như chiêu trò “đổ thêm dầu vào lửa” để gây đám cháy nên không thể chấp nhận.
Chính sách “bốn không” và quan điểm về đối tác, đối tượng của Việt Nam – Lời giải đáp ngắn gọn, súc tích, đầy tính nhân văn.
Quan điểm nhất quán của Đảng ta là: Tăng cường quan hệ, hợp tác với các nước lớn, các nước láng giềng, các nước bạn bè truyền thống. Đó là xu thế khách quan, cần thiết nhưng với quan điểm rõ ràng: “Việt Nam sẵn sàng là bạn, là đối tác tin cậy và là thành viên có trách nhiệm trong cộng đồng quốc tế.
Việt Nam không bao giờ chọn phe phái, chỉ chọn lẽ phải, công bằng và chính nghĩa, phù hợp với triết lý nhân sinh vì hòa bình, độc lập, tự do, ấm no, hạnh phúc của nhân dân Việt Nam. Điều sâu sắc ấy đã thể hiện rõ ở lập trường, quan điểm của Đảng, Nhà nước ta trong xác định đối tác, đối tượng, giải quyết mối quan hệ giữa đối tác và đối tượng, giữa đối nội và đối ngoại.
Khép lại quá khứ, hướng tới tương lai” là hành động thông minh, đầy thiện chí; một cách đối nhân, xử thế nhân văn, nhân đạo; linh hoạt và mềm dẻo để chúng ta “trọn nghĩa vẹn tình” nhằm “được việc, được người, được quan hệ”, Nhân dân có được cuộc sống hòa bình, độc lập, tự do, hạnh phúc.
Nó được xây dựng trên cơ sở đạo lý, pháp lý; tuân theo những nguyên tắc chung, được bổ sung nội hàm làm cho khái niệm mới mẻ hơn, phù hợp hơn với mối quan hệ bang giao giữa hai Đảng, hai Nhà nước, hai dân tộc, có lợi cho hòa bình và phát triển, thịnh vượng, phồn vinh, hàm chứa ý nghĩa nhân văn độc đáo và sâu sắc. Làm trái điều đó là cản trở sự phát triển của lịch sử, gây hại cho dân, cho nước.
Tất cả điều đó đã nó lên rằng, Việt Nam chỉ chọn lẽ phải, chọn chính nghĩa, đi theo con đường nhân văn, nhân đạo, Việt Nam không chọn phe, theo phái hay phục tùng ai đó nếu để mất độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, Nhân dân mất cuộc sống hòa bình, độc lập, tự do, ấm no, hạnh phúc. Đó là điều không thể chấp nhận, chúng ta không bao giờ làm điều sai trái ấy.
Hòa bình – Hạnh phúc là thiêng liêng, bất khả xâm phạm. Việt Nam không đổi đất, đổi biển trời; cuộc sống an vui, hạnh phúc của nhân dân để theo phe, theo phái; để có thứ hòa bình viễn vông và ngắm nhìn các mỹ từ đẹp, lộng lẫy. Ai còn chưa thông, nhìn không thoáng, hãy xem lại chính sách “bốn không” của Việt Nam, quan điểm về đối tác, đối tượng của Đảng ta sẽ nhận rõ như thế nào là đúng, như thế nào là sai; ai theo phe, theo phái mà tự sửa mình cho đúng./.

KHÔNG THỂ PHỦ NHẬN TỰ DO INTERNET Ở VIỆT NAM

 Kể từ khi chính thức hòa mạng internet vào năm 1997, quan điểm nhất quán của Đảng, Nhà nước ta là luôn tôn trọng và bảo vệ quyền phát triển của mỗi người dân, quyền được tự do thông tin, tự do internet. Việt Nam chỉ nghiêm cấm những hành vi lợi dụng hệ thống kết nối toàn cầu này để gây ảnh hưởng đến an ninh quốc gia, vi phạm đạo đức, thuần phong mỹ tục, đồng thời xác định trong kỷ nguyên số, tự do internet là một trong những tiền đề quan trọng để phát huy dân chủ và phát triển kinh tế - xã hội đất nước.

Dù hòa mạng internet muộn hơn so với các quốc gia trong khu vực và trên thế giới, tuy nhiên Việt Nam đã thu về nhiều thành tựu vượt bậc về tốc độ phát triển, là động lực quan trọng để thúc đẩy sự đi lên của Việt Nam trên nhiều lĩnh vực kinh tế, văn hóa, xã hội, được bạn bè quốc tế ghi nhận và đánh giá cao.

Tuy nhiên, vì mục đích riêng, vẫn có cá nhân, tổ chức thiếu thiện chí cố tình phớt lờ mọi nỗ lực và thành tựu của Việt Nam trong bảo đảm quyền con người, quyền tự do internet, đưa ra những đánh giá phiến diện, định kiến, sai sự thật, bỏ qua những điểm sáng, mặt tích cực để xếp Việt Nam nằm trong danh sách các quốc gia không có tự do internet.
Điển hình là Báo cáo thường niên Freedom on the Net 2022 (Tự do trên mạng 2022) được tổ chức Freedom House (FH) công bố ngày 18/10/2022, trong đó xếp hạng Việt Nam là một trong năm quốc gia kém tự do internet nhất trên thế giới.
Đây không phải là lần đầu tiên FH đưa ra những đánh giá phiến diện, tiêu cực, sai sự thật về vấn đề tự do, dân chủ tại Việt Nam. Ngày 2/6/2022, tổ chức này đã ra cái gọi là “Báo cáo bảo vệ nền dân chủ khi sống lưu vong” với nhiều nội dung xuyên tạc tình hình thực tế của Việt Nam, nổi lên là cáo buộc vô căn cứ “chính quyền đang tiến hành thực hiện đàn áp xuyên quốc gia nhằm bịt miệng người đấu tranh ngay cả khi họ rời quê hương”; “tiến hành tấn công mạng vào các tổ chức hỗ trợ người Việt tị nạn và thúc đẩy nhân quyền”. Vào tháng 3 năm nay, FH cũng xếp Việt Nam ở vị trí áp chót khu vực Đông Nam Á về mức độ tự do. Nhìn lại quá khứ, tổ chức này đã 7 lần liên tiếp cho rằng Việt Nam không có tự do internet.
Tự mô tả mình là “tiếng nói cho dân chủ và tự do trên toàn thế giới”, phương thức đánh giá, tiêu chuẩn xếp hạng của FH cũng như nhiều tổ chức nhân quyền khác lại hoàn toàn trái ngược với tuyên bố của họ. Các báo cáo của FH cho thấy tổ chức này không hề dựa trên các cuộc khảo sát, điều tra xã hội học tại các quốc gia được xếp hạng mà chỉ thu thập thông tin từ những nguồn thất thiệt, không chính thống.
Thêm vào đó, tiêu chí xếp hạng nhân quyền của FH chỉ dựa trên ý chí của một hoặc vài cá nhân, nhưng không hề có cơ sở khoa học. Thậm chí trong giai đoạn 1970-1988, nhiều nhà nghiên cứu và báo chí phát hiện ra rằng giám đốc Freedom House, Raymond Duncan Gastil đã một mình soạn thảo các báo cáo thường niên Freedom in the World (Tự do trên thế giới) mà không hề có sự trao đổi, bàn bạc với các học giả, nhà nghiên cứu uy tín.
Trong bài viết The Politics of Rating Freedom: Ideological Affinity, Private Authority, and the Freedom in the World Ratings (tạm dịch Chính trị của xếp hạng tự do: Mối quan hệ tư tưởng, Quyền lực tư nhân và Quyền tự do trong xếp hạng thế giới) trên tạp chí Perspectives on Politics (thuộc nhà xuất bản Cambridge, Anh) xuất bản ngày 18/8/2017, học giả Sarah Sunn Bush bình luận: nhiều nhà phê bình đã nhận thấy sự thiếu sót trong phương pháp luận của Raymond Gastil trong các báo cáo của FH trước năm 1990.
Sau khi tổ chức này thuê một nhóm chuyên gia khác thực hiện báo cáo, tình hình có được cải thiện nhưng FH vẫn vấp phải nhiều sự chỉ trích. Bởi lẽ, các định nghĩa, phương pháp luận của FH về dân chủ có mối liên hệ chặt chẽ với chính sách đối ngoại của Hoa Kỳ.
Các quốc gia đồng minh của Hoa Kỳ thường được FH chấm điểm cao hơn so với các nước khác. Hơn nữa, theo ghi nhận của Sarah Sunn Bush, báo cáo của FH có ý nghĩa quan trọng, là nguồn tham khảo với các nhà lập pháp và chính trị gia Hoa Kỳ. Bởi vậy, các quốc gia yếu thế đang tìm kiếm sự hỗ trợ hoặc ưu ái của Hoa Kỳ buộc phải có những động thái mỗi khi FH tung ra các báo cáo mới.
Trên thực tế, không riêng Việt Nam, nhiều quốc gia trên thế giới đã từng gay gắt phản đối các báo cáo về tình hình nhân quyền của FH như Cuba, Trung Quốc, Nga, Sudan, Uzbekistan,… Chẳng những vậy, nhiều tổ chức xã hội dân sự tại Hoa Kỳ cũng thường xuyên lên án FH.
Ngày 16/2/2018, trên website chính thức của mình, tổ chức The Heritage Foundation nhận định: “Không có lý do gì khiến những người theo chủ nghĩa bảo thủ ở Hoa Kỳ và khắp phương Tây phải quan tâm đến các báo cáo của Freedom House vì chúng không khác biệt với những tuyên truyền của Tổ chức Ân xá quốc tế, Tổ chức Theo dõi nhân quyền hoặc các nhóm bình phong của George Soros (tỷ phú người Mỹ gốc Hungary, người bị cáo buộc thường xuyên tài trợ cho các tổ chức nhân quyền vì động cơ chính trị và đảng phái)”.
Tại Việt Nam, tháng 3/2021, hàng chục nghìn tài khoản facebook đã truy cập vào fanpage của FH để phản đối tuyên bố “Việt Nam không có tự do internet” do tổ chức này đưa ra. Trong đó, nhiều người đã thẳng thắn đề xuất FH nên để cho chính người Việt Nam chấm điểm về tự do trên internet của đất nước mình. Dù vậy, FH đã bỏ ngoài tai những yêu cầu chính đáng của nhân dân Việt Nam để tiếp tục tung ra các luận điệu xuyên tạc sự thật qua những báo cáo mới đây.
Cách đây khoảng ba thập kỷ, việc hòa mạng internet từng là “thử thách rất lớn trong quá trình đổi mới bởi đây là vấn đề rất nhạy cảm” (theo nhận định của ông Mai Liêm Trực, nguyên Tổng cục trưởng Tổng cục Bưu điện). Bởi lẽ, quá trình đưa internet vào Việt Nam không chỉ đòi hỏi sự nâng cấp đáng kể về mặt cơ sở hạ tầng kỹ thuật, mà còn yêu cầu sự đổi mới tư duy của nhà làm luật.
Tại thời điểm ấy, còn tồn tại nhiều luồng ý kiến e ngại về việc hòa mạng toàn cầu có thể dẫn đến nguy cơ gây mất an ninh quốc gia. Mặc dù vậy, trong giai đoạn 1997-2008, bất chấp nhiều khó khăn, thiếu thốn và hạn chế khi mới hòa mạng toàn cầu, Chính phủ Việt Nam đã ban hành nhiều văn bản chính sách, pháp luật nhằm bảo đảm và phát huy quyền tự do của người sử dụng dịch vụ internet. Tiêu biểu như Nghị định số 55/2001/NĐ-CP của Chính phủ ngày 23/8/2001 về Quản lý, cung cấp và sử dụng dịch vụ internet đã khẳng định không ai được ngăn cản quyền sử dụng hợp pháp các dịch vụ internet (Điều 9).
Hay Nghị định số 97/2008/NĐ-CP của Chính phủ ngày 28/8/2008 về Quản lý, cung cấp, sử dụng dịch vụ internet và thông tin điện tử trên internet đưa ra hàng loạt chính sách phát triển internet quan trọng như: khuyến khích việc ứng dụng internet trong các lĩnh vực kinh tế, văn hóa, xã hội để nâng cao năng suất lao động; mở rộng các hoạt động thương mại; Thúc đẩy việc ứng dụng internet trong các cơ quan Đảng, Nhà nước, trường học, bệnh viện, các cơ sở nghiên cứu, đưa internet đến nông thôn, vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo; hỗ trợ cải cách hành chính, tăng tiện ích xã hội, nâng cao chất lượng cuộc sống của nhân dân và bảo đảm an ninh, quốc phòng; Tạo điều kiện thuận lợi cho các tổ chức, cá nhân tham gia cung cấp và sử dụng dịch vụ internet, tăng cường công tác tuyên truyền, giáo dục, hướng dẫn pháp luật về internet.
Có biện pháp để ngăn chặn những hành vi lợi dụng internet gây ảnh hưởng đến an ninh quốc gia, vi phạm đạo đức, thuần phong mỹ tục, vi phạm các quy định của pháp luật và để bảo vệ trẻ em khỏi tác động tiêu cực của internet; Phát triển internet với đầy đủ các dịch vụ có chất lượng cao và giá cước hợp lý nhằm đáp ứng yêu cầu phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước (khoản 1,2,3,4 Điều 4 Nghị định).
Còn tại Nghị định số 72/2013/NĐ-CP của Chính phủ ngày 15/7/2013 về Quản lý, cung cấp, sử dụng dịch vụ internet và thông tin trên mạng nhấn mạnh người sử dụng internet có quyền được sử dụng các dịch vụ trên internet trừ các dịch vụ bị cấm theo quy định của pháp luật (khoản 1, Điều 10).
Bên cạnh đó, từ quan sát và phân tích sự tăng trưởng về lượng người sử dụng internet tại Việt Nam và thế giới, các nhà hoạch định chính sách, nhà lập pháp đã nhận ra mối liên hệ mật thiết giữa quyền tự do trên internet với quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, quyền riêng tư trên không gian mạng,...
Từ đây, Quốc hội cùng các cơ quan chức năng đã tổ chức xây dựng các giải pháp pháp lý phù hợp nhằm bảo đảm các quyền này cũng như phòng, chống, ngăn chặn các hành vi lợi dụng tự do trên internet gây ảnh hưởng đến an ninh quốc gia, vi phạm đạo đức, thuần phong mỹ tục. Đây là cơ sở để hình thành một hệ thống văn bản pháp luật tương đối hoàn chỉnh của Việt Nam về internet nói riêng, an ninh mạng nói chung như: Luật Viễn thông, Luật An toàn thông tin mạng, Luật An ninh mạng,...
Qua đó, Nhà nước Việt Nam đã xây dựng được một hành lang pháp lý quan trọng, góp phần tạo ra một môi trường mạng lành mạnh, an toàn, phát huy quyền tự do, dân chủ của công dân. Song song với quá trình hoàn thiện hệ thống văn bản pháp luật phù hợp sự phát triển của internet tại Việt Nam, Chính phủ đã phê duyệt hàng loạt đề án phát triển internet với các chỉ tiêu phát triển cụ thể theo từng giai đoạn.
Theo Báo cáo mới đây của Bộ Thông tin và Truyền thông, trung bình cứ 100 người dân Việt Nam có 83 thuê bao internet di động, trong khi thuê bao cố định là 21. Sách trắng Thương mại điện tử Việt Nam 2022 của Bộ Công thương cho thấy người Việt dành 6 giờ 38 phút mỗi ngày để truy cập internet. Đây đều là những thống kê cao hơn mức trung bình của thế giới. Việt Nam cũng nằm trong nhóm các quốc gia có giá cước internet rẻ nhất thế giới. Hiện tại, Việt Nam có 1.952 trang thông tin điện tử tổng hợp và 935 mạng xã hội trong nước đã được cấp phép hoạt động, là những diễn đàn trực tuyến để người dân có thể tự do chia sẻ, bày tỏ thông tin, quan điểm cá nhân.
Thực tế nêu trên cho thấy quyền tự do trên internet tại Việt Nam luôn được bảo đảm, phát huy, trái với luận điệu xuyên tạc của một số cá nhân, tổ chức không thiện chí. Không những vậy, là một đất nước văn minh, dân chủ, tiến bộ và thân thiện, Việt Nam luôn sẵn sàng hỗ trợ và tạo điều kiện để các cá nhân, tổ chức quốc tế có thể tìm hiểu, nghiên cứu một cách trung thực, khách quan về công tác bảo đảm quyền con người ở Việt Nam, bao gồm quyền tự do trên internet, tự do ngôn luận, tự do báo chí trên không gian mạng./.
PHAN KỶ

14/11/22

NHẬN THỨC ĐÚNG VỀ TỰ DO NGÔN LUẬN THỜI ĐẠI SỐ

 Quyền tự do ngôn luận là một trong những quyền cơ bản của con người được ghi nhận trong Tuyên ngôn quốc tế nhân quyền năm 1948 và Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị năm 1966.
Điều 19, Tuyên ngôn quốc tế nhân quyền (UDHR) năm 1948 nêu rõ: “Mọi người đều có quyền tự do ngôn luận và bày tỏ ý kiến; kể cả tự do bảo lưu quan điểm mà không bị can thiệp cũng như tự do tìm kiếm, tiếp nhận và truyền bá các ý tưởng và thông tin bằng bất kỳ phương tiện truyền thông nào và không có giới hạn về biên giới”.
Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị (ICCPR) năm 1966 cũng quy định: “Mọi người có quyền tự do ngôn luận. Quyền này bao gồm tự do tìm kiếm, tiếp nhận và truyền đạt thông tin, ý kiến, không phân biệt lĩnh vực, hình thức tuyên truyền bằng miệng, bằng bản viết, in, hoặc dưới hình thức nghệ thuật, thông qua bất kỳ phương tiện thông tin đại chúng nào tùy theo sự lựa chọn của họ”.

Tự do ngôn luận và những hành vi lợi dụng trên không gian mạng
Thời gian qua, cùng với sự phát triển của công nghệ thông tin, hình thức thể hiện của tự do ngôn luận có sự biến đổi lớn. Internet, mạng xã hội trở thành công cụ phổ biến để mọi cá nhân, tổ chức bày tỏ quan điểm, tư tưởng, truyền bá thông tin, thể hiện quyền tự do ngôn luận. Sức lan tỏa và ảnh hưởng của nó rất mạnh mẽ và nhanh chóng, tạo được sự chú ý, quan tâm theo dõi của số đông người dân, nhất là những người có ảnh hưởng trong xã hội.
Chỉ cần sở hữu phương tiện điện tử (điện thoại thông minh, laptop) có kết nối Internet, cá nhân có quyền tự do truyền đạt thông tin, ý kiến của mình đến người khác mọi nơi, mọi lúc. Tình trạng các hội, nhóm tiêu cực xuất hiện trên không gian mạng có xu hướng ngày càng gia tăng gây tác động xấu đối với người sử dụng mạng nói riêng và việc giữ gìn an ninh, trật tự xã hội nói chung.
Thực tế này đang đòi hỏi các cơ quan chức năng cần sớm có các biện pháp ngăn chặn hiệu quả cũng như đặt ra yêu cầu mỗi người dân khi tham gia mạng xã hội phải hết sức tỉnh táo để không trở thành nạn nhân của "thế giới ảo".
Thông qua các hội, nhóm tiêu cực, người dùng có thể tự do bày tỏ ý kiến, quan điểm, đăng tải hay lan truyền bất cứ thông tin gì thông qua tài khoản cá nhân của mình. Điều này mang đến những nguy cơ khi quyền này bị lạm dụng, nhất là khi những người đăng tải thông tin trên không gian mạng có quan điểm sai trái, thái độ cực đoan, nhận thức pháp luật chưa đầy đủ, dẫn đến bị các thế lực thù địch lợi dụng, lôi kéo, kích động hoặc vì động cơ cá nhân, một số trường hợp đã đăng tải thông tin sai sự thật, xâm phạm đến quyền và lợi ích hợp pháp của các tổ chức, cá nhân.
Điển hình như các trường hợp: Nguyễn Phước Trung Bảo, Đoàn Kiên Giang, Nguyễn Thanh Nhã, Lê Thế Thắng, Trương Châu Hữu Danh (trú tại Long An), Nguyễn Phương Hằng, Lê Anh Dũng (trú tại TP Hồ Chí Minh), Lê Chí Thành (trú tại Bình Thuận), Nguyễn Huy (trú tại Quảng Trị)... Những trường hợp trên đều bị truy cứu theo Điều 331, BLHS 2015 về tội “Lợi dụng các quyền tự do dân chủ xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân”, cụ thể là lạm dụng quyền tự do ngôn luận trên mạng xã hội.
Sự lợi dụng các quyền tự do ngôn luận trên không gian mạng đã và đang tiềm ẩn nhiều nguy cơ mất an toàn cho cộng đồng. Theo dữ liệu thống kê từ We are Social, tính đến tháng 1/2022, Việt Nam có 76,95 triệu người dùng mạng xã hội, tương đương 78,1% tổng dân số. Từ năm 2021 đến 2022, số người dùng mạng xã hội ở Việt Nam đã tăng 5 triệu người (6,9%). Với độ phủ sóng rộng cùng một lượng lớn thời gian hoạt động và tương tác trên các nền tảng xã hội, những gì người sử dụng thu nhận được sẽ tác động không nhỏ đến việc hình thành tư tưởng và phát triển nhân cách, đạo đức, lối sống, nhất là ở nhóm đối tượng vị thành niên - lứa tuổi dễ đi theo những luồng tư tưởng mới, dễ bị tổn thương và kích động tâm lý.
Tự do ngôn luận trên không gian mạng phải tuân thủ pháp luật
Theo quy định tại Điều 19, Công ước ICCPR năm 1966: “Việc thực hiện quyền tự do ngôn luận có thể phải chịu một số hạn chế nhất định và những hạn chế này cần được quy định bởi pháp luật, nhằm tôn trọng các quyền hoặc uy tín của người khác; bảo vệ an ninh quốc gia hoặc trật tự, an toàn xã hội, sức khỏe hoặc đạo đức của xã hội”. Như vậy, theo quy định của pháp luật quốc tế, quyền tự do ngôn luận không phải là tuyệt đối.
Với sự phát triển nhanh chóng của công nghệ, mạng xã hội xuyên quốc gia như Facebook, Twitter, Youtube… đã tạo ra những cơ hội, khả năng tiếp xúc, giao lưu văn hóa, hiểu biết lẫn nhau giữa các dân tộc trên thế giới. Nhưng chưa bao giờ môi trường ảo lại nhiều tác động tiêu cực như hiện nay. Tình trạng lợi dụng tự do ngôn luận phát tán tin giả, tin sai sự thật, các nội dung phản cảm, thiếu tính giáo dục, kích động bạo lực trên không gian mạng đang diễn biến rất phức tạp.
Nhận thức rõ những nguy cơ lợi dụng tự do ngôn luận trên không gian mạng đe dọa đối với an ninh quốc gia, nhiều nước trên thế giới cũng đã triển khai các biện pháp nhằm kiểm soát tốt hơn những thông tin được phép đăng tải trên mạng xã hội và hạn chế tối đa sự lan tràn, phát tán những thông tin giả mạo và độc hại. Tại Mỹ, giới hạn của tự do ngôn luận được thể hiện chủ yếu qua án lệ của các tòa án, đặc biệt là Tòa án Tối cao Hoa Kỳ, cho phép chính quyền ngăn chặn và trừng phạt các phát ngôn có tính chất khiêu dâm, tục tĩu, phỉ báng, xúc phạm và gây hấn mà không bị xem là vi hiến.
Ở Pháp, pháp luật về tự do ngôn luận đưa ra các giới hạn, chế tài nghiêm khắc trừng trị hành vi lạm dụng quyền tự do ngôn luận làm ảnh hưởng tới quyền, lợi ích hợp pháp của người khác, bao gồm việc bảo vệ nhân phẩm con người, chống lại việc vu khống, bôi nhọ; chống phân biệt chủng tộc, tôn giáo; chống kích động bạo lực, gây hận thù (Luật Tự do báo chí, năm 1881); chống lại việc xâm phạm đời tư (Bộ luật Dân sự); cấm xuất bản một số tài liệu liên quan đến an ninh quốc gia (Luật Hình sự)… Việc bày tỏ quan điểm cá nhân trên mạng Internet cũng chịu sự điều chỉnh của Luật Tự do báo chí.
Ngoài ra, nhiều nước châu Âu khác cũng đưa ra các quy định với hình phạt cụ thể trong vấn đề này nhằm chống lại mọi hình thức tuyên truyền kích động, tiến hành xử lý hình sự đối với những phát ngôn thù ghét và kích động. Italia, Tây Ban Nha, Thổ Nhĩ Kỳ cũng hình sự hóa các hành vi phỉ báng, xúc phạm danh dự của tổng thống hay các thành viên hoàng gia. Bên cạnh đó, trong nỗ lực chung nhằm ngăn chặn tình trạng lợi dụng tự do ngôn luận để phát ngôn thù địch, tiêu cực trên Internet, Liên minh châu Âu (EU) đã ban hành Bộ Quy tắc ứng xử trên Internet với sự cam kết hành động của bốn doanh nghiệp mạng lớn nhất thế giới bao gồm Facebook, Twitter, Youtube và Microsoft.
Những động thái này nhằm bảo đảm quyền tự do ngôn luận đúng nghĩa của người dân và tạo cơ sở để xây dựng một xã hội thực sự dân chủ, văn minh. Rõ ràng, trong bất cứ chế độ chính trị nào cũng không thể có tự do ngôn luận tuyệt đối, các quốc gia đều có quy định xử lý hành vi lợi dụng tự do ngôn luận; đề cao tự do ngôn luận phải vì lợi ích chung, không phải là sự tuyệt đối hóa tự do cá nhân, không thể lợi dụng tự do ngôn luận để viết, nói, xuyên tạc với ý đồ xấu, bất chấp luân lý và luật pháp.
Đảng và Nhà nước ta luôn tôn trọng và bảo đảm các quyền con người, trong đó có quyền tự do ngôn luận của công dân. Tự do ngôn luận được xem là quyền hiến định ngay trong bản Hiến pháp đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa năm 1946: “Công dân Việt Nam có quyền: tự do ngôn luận, tự do xuất bản, tự do tổ chức và hội họp, tự do tín ngưỡng, tự do cư trú, đi lại trong nước và ra nước ngoài” (Điều 10).
Hiến pháp năm 2013 tiếp tục khẳng định: “Công dân có quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, tiếp cận thông tin, hội họp, lập hội, biểu tình. Việc thực hiện các quyền này do pháp luật quy định” (Điều 25). Khung pháp lý của nước ta về quyền tự do ngôn luận cơ bản đầy đủ, đồng bộ, tương thích với luật pháp quốc tế về quyền con người.
Nhận thức rõ tầm quan trọng, lợi ích cũng như những hiểm họa từ mặt trái của Internet và mạng xã hội, Đảng và Nhà nước ta đã có những chủ trương, chính sách phù hợp nhằm phát triển Internet và mạng xã hội; đồng thời bảo vệ an ninh mạng và phòng, chống lợi dụng Internet, mạng xã hội để xuyên tạc, chống phá chính quyền, xâm hại quyền và lợi ích hợp pháp của công dân.
Đáng chú ý là Chỉ thị số 28-CT/TW, ngày 16/9/2013 của Ban Bí thư khóa XI về “Tăng cường công tác bảo đảm an toàn thông tin mạng”; Nghị định số 72/2013/NĐ-CP, ngày 15/7/2013 của Chính phủ về “Quản lý, cung cấp, sử dụng dịch vụ Internet và thông tin trên mạng”; Chỉ thị số 15/CT-TTg, ngày 17/6/2014 của Thủ tướng Chính phủ về “Tăng cường công tác bảo đảm an ninh và an toàn thông tin mạng trong tình hình mới”.
Thực hiện Nghị quyết số 35-NQ/TW ngày 22/1/2018 của Bộ Chính trị về “Tăng cường bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trong tình hình mới”, Ban Tuyên giáo Trung ương tăng cường chỉ đạo công tác đấu tranh phòng, chống hoạt động lợi dụng Internet chống phá Đảng, Nhà nước. Các cơ quan chức năng của Bộ Công an, Bộ Quốc phòng chủ động triển khai các biện pháp nghiệp vụ, phát hiện, đấu tranh, ngăn chặn, xử lý các đối tượng lợi dụng Internet để vi phạm pháp luật. Cùng với đó là việc thành lập Bộ Tư lệnh Tác chiến không gian mạng (Bộ Quốc phòng) theo Quyết định số 1198/QĐ-TTg ngày 15/8/2017 của Thủ tướng Chính phủ.
Luật Báo chí năm 2016, Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 và Luật An ninh mạng năm 2018 đều quy định rõ những hành vi bị nghiêm cấm như đăng tải, phát tán thông tin sai lệch, xuyên tạc, phỉ báng chính quyền; bịa đặt, gây hoang mang trong nhân dân; xuyên tạc lịch sử, phủ nhận thành tựu cách mạng; xúc phạm dân tộc, anh hùng dân tộc; thông tin sai sự thật, vu khống, xúc phạm uy tín của cơ quan, tổ chức, danh dự, nhân phẩm của cá nhân…
Bên cạnh các quy định của pháp luật, các biện pháp quản lý không gian mạng từ cơ quan có thẩm quyền thì vai trò của dư luận xã hội trong việc định hướng và điều chỉnh hành vi đạo đức của con người thông qua cơ chế giám sát cũng hết sức cần thiết.
Đẩy mạnh giáo dục, tuyên truyền nhằm nâng cao trách nhiệm của người sử dụng mạng Internet. Nâng cao nhận thức và năng lực tự sàng lọc thông tin của người dân và cộng đồng, hình thành thói quen hành xử tích cực trên môi trường mạng. Đây là giải pháp có ý nghĩa then chốt và lâu dài để mỗi người dân trở thành bộ lọc thông tin hiệu quả cho chính mình và cộng đồng.
Cơ quan chức năng cần thường xuyên theo dõi, khảo sát, đánh giá, kịp thời điều chỉnh, bổ sung, hoàn thiện hệ thống pháp luật, cơ chế, chính sách giúp quản lý hiệu quả, vừa phù hợp với các quy tắc điều chỉnh hành vi văn hóa trong sinh hoạt xã hội và cộng đồng, vừa theo kịp sự phát triển của không gian mạng
Nguồn: Báo Công an nhân dân

LỢI DỤNG TÂM LINH ĐỂ THỰC HIỆN HÀNH VI VI PHẠM PHÁP LUẬT

 Hiện nay có một thực tế đáng báo động đó là không khó để chúng ta tiếp xúc với cái gọi là “dịch vụ tâm linh” thông qua các hành vi bói toán, xem tử vi, bùa chú, đồng bóng, xem tuổi, tìm người thất lạc, tìm mộ, thậm chí cả livestream… đang tràn lan trên các trang mạng xã hội. Điều đáng lo ngại hơn là những hoạt động này đang được hỗ trợ rất đắc lực bởi sự phát triển của công nghệ.

Các hội, nhóm, câu lạc bộ nhân danh hoạt động tâm linh để để tổ chức những buổi rao giảng với nội dung phản khoa học, mê tín dị đoan, đi ngược lại với thuần phong mỹ tục của xã hội,… đang mọc lên như nấm. Thậm chí nhiều hội, nhóm còn lợi dụng tự do tín ngưỡng, tôn giáo để tuyên truyền luận điệu sai trái, gây bất ổn trong dư luận xã hội, nhằm thực hiện các âm mưu phá hoại đất nước.

Dịch vụ “tâm linh” trực tuyến đang nở rộ, được quảng cáo công khai trên không gian mạng, nhiều trang mạng quảng cáo các dịch vụ tâm linh nhận được cả trăm nghìn lượt theo dõi. Đây thực sự là một miếng bánh béo bở cho các đối tượng xấu hoạt động, chúng đánh thẳng vào tâm lý “ai có bệnh thì vái tứ phương” của không ít bộ phận người dân.
Như chúng ta đã biết, Đảng và Nhà nước ta luôn nhất quán chính sách tôn trọng, đảm bảo và bảo vệ quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo nhưng các hành vi lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo để lừa đảo và các hành vi vi phạm pháp luật khác thì luôn bị nghiêm cấm và xử lý nghiêm.
Mỗi chúng ta cần cảnh giác trước các dịch vụ tâm linh lợi dụng mê tín, dị đoan để trục lợi, không nên tin vào những lời bói toán, đồn thổi vô căn cứ để rồi làm tổn hại kinh tế của cá nhân và gia đình, làm nảy sinh những tư tưởng tiêu cực, dẫn đến nhiều hệ quả khó lường. Cần thay đổi suy nghĩ rằng: những điều tốt lành, sự may mắn chỉ đến với chúng ta khi bản thân mình có tư duy tích cực, có hành động đúng đắn và có lối sống lành mạnh.
<Nguyễn Anh>

SỰ THẬT CLIP ĐI CHÙA ĂN MẶC PHẢN CẢM ĐƯỢC PHƠI BÀY

 Trong những ngày qua, cư dân mạng sôi sục trước clip một cô gái trẻ ăn mặc hở hang cự cãi một bà vãi khi bà vãi này không cho cô gái trẻ vào chùa. Đặc biệt, cô gái trẻ này khi cố tình vào chùa và có những hành động, lời nói xúc phạm đến người lớn tuổi. Clip nhanh chóng được chia sẻ rộng rãi trên mạng và tạo ra những luồng dư luận khác nhau.

Đa số cư dân mạng đều lên án hành động ăn mặc hở hang đi vào chùa cũng như những hành vi vô lễ với người lớn tuổi của cô gái trẻ này. Bên cạnh đó, cư dân mạng cũng đã tranh luận về nhận thức cũng như lối sống của một bộ phận giới trẻ ngày nay khi du nhập văn hóa phương Tây, gây ra xung đột văn hóa. Thậm chí, cũng đã có những tranh luận xung quanh như thế nào là tự do tín ngưỡng, tự do tôn giáo.
Tuy nhiên, cũng rất nhanh chóng, bức ảnh thân mật giữa bà vãi và cô gái trẻ được cư dân mạng lan truyền trên mạng xã hội. Bức ảnh đã hé lộ sự thật của clip khi cư dân mạng vạch trần đây là một clip được dàn dựng. Lúc này, cả cộng đồng mạng lại được phen ngã ngửa ra khi mình biết mình ăn một cú lừa. Với tài diễn xuất xuất chúng, hai cô cháu nhà kia đã khiến cư dân mạng mất khá nhiều thời gian để bình phẩm, phê phán thậm chí là lên án. Cuối cùng, thì clip này lại là một sản phẩm của nghệ thuật sắp đặt.


Có thể coi clip trên như một dạng thông tin giả được lan truyền trên mạng. Có nhiều người nói nó phản ánh một phần thực tiễn nhưng sự phản ánh này cần phải được nói rõ là clip dàn dựng chứ không phải kiểu đưa clip như quay một sự việc ngẫu nhiên như vậy. Điều này đem lại các kết quả tiêu cực không khác gì việc đăng tải tin giả. Nhóm làm clip muốn câu view, câu like nhưng cũng không lường trước hết được phản ứng mạnh mẽ của dư luận đến vậy.
Mong rằng, các cơ quan chức năng sẽ nhanh chóng làm rõ nhóm làm clip, căn cứ vào các quy định để tiến hành xử lý. Bởi trong một môi trường mạng với đa dạng thông tin, những clip tiêu cực như trên có thể gây ảnh hưởng đến nhận thức, hành động của một bộ phận giới trẻ thậm chí tạo trào lưu làm clip với nội dung bịa đặt như vậy. Đồng thời, chùa là chốn linh thiêng, việc ăn mặc hở hang quay clip và đem những câu chuyện bịa đặt ra diễn tại nơi đây là hoàn toàn không phù hợp.
<Trung Quân>

THẾ NÀO LÀ TỒI TỆ?

 Sau buổi làm việc về nhân quyền giữa đại diện Việt Nam – Mỹ, đại diện Mỹ đã lập tức có buổi gặp gỡ với những nhà hoạt động dân chủ, dân quyền… của Việt Nam. Nội dung buổi gặp mặt tuy không được tiết lộ chi tiết nhưng phí Mỹ cho biết rất lên án, quan ngại cao độ trước việc Việt Nam có thành tích nhân quyền tồi tệ trong năm khi đã bắt rất nhiều nhà bất đồng chính kiến.

Báo Bồn Cầu (BBC tiếng Viết) cũng ngay lập tức "nâng bi" với việc dẫn lời của phía đại diện của Mỹ với luận điệu xuyên tạc, bịa đặt, vu cáo rằng: Việt Nam đã bắt nhiều nhà báo, nhà bất động chính kiên trong năm nay nhiều hơn bất cứ năm nào khác trong 10 năm trở lại đây và kêu gọi phía Việt Nam cần trả tự do ngay lập tức cho các những người này.
Nói thật chứ tôi thấy những luận điệu xuyên tạc về tình hình dân chủ, nhân quyền Việt Nam không có gì mới lạ cả. Vẫn luận điệu xuyên tạc, vu cáo năm nào cũng sử dụng và không có gì mới mẻ cả.
Ở Việt Nam chả có ai gọi là "nhà bất đồng chính kiến" hay "nhà báo" nào bị chính quyền bắt cả. Những kẻ mà BBC điểm tên thực chất là những kẻ vi phạm pháp luật Việt Nam mà cụ thể là lợi dụng quyền tự do dân chủ để chống phá Đảng và Nhà nước Việt Nam, lừa bịp nhân dân, phá rối an ninh trật tự. Đó là những kẻ vì những đồng USD mà bất chấp lương tâm, lợi ích của đất nước, chấp nhận làm "cánh tay nối dài" của các tổ chức p.h.ả.n đ.ộ.n.g để phá hoại sự bình yên của Việt Nam.
Còn về thành tựu nhân quyền của Việt Nam thì xin lỗi chứ chắc gì vấn đề "dân chủ", "nhân quyền" đã hơn hẳn Việt Nam. Tiêu chuẩn, tiêu chí của 2 quốc gia, 2 dân tộc, 2 chế độ không giống nhau nên không thể áp đặt tiêu chí, tiêu chuẩn của Mỹ đối với Việt Nam được nhé. Điển hình là việc sử dụng s.ú.n.g đ.ạ.n ở Mỹ không bao giờ phù hợp với Việt Nam được. Theo số liệu thống kê từ đầu năm 2022 đến nay, ở Mỹ xảy ra 660 vụ x.ả s.ú.n.g (dự kiến hết năm gần 900 vụ).
Những thành tựu nhân quyền của Việt Nam được cả thế giới ghi nhận mà minh chứng rõ nhất là việc Việt Nam là thành viên chính thức của Hội đồng Nhân quyền Liên Hợp quốc với số phiếu ủng hộ rất cao. Vậy nên, dù xuyên tạc như thế nào cũng không thể phủ nhận thành tựu nhân quyền của Việt Nam được đâu.
Theo Việt Nam Trong Tim Tôi

ỦY BAN TỰ DO TÔN GIÁO QUỐC TẾ CỦA HOA KỲ ĐANG TỰ TÉ NƯỚC BẨN LÊN CHÂN MÌNH!

 Uỷ ban Tự do Tôn giáo Quốc tế của Hoa Kỳ (USCIRF) vừa đưa bị cáo Lê Tùng Vân của Thiền am Bên bờ vũ trụ vào danh sách “Nạn nhân tự do tôn giáo và niềm tin” toàn cầu. Hành động này đang đi ngược với giá trị chân chính của tôn giáo và chẳng khác nào tự té nước bẩn lên chân mình.

Trước đó, ngày 2/11, TAND tỉnh Long An mở phiên tòa phúc thẩm xét xử vụ 'Lợi dụng các quyền tự do dân chủ xâm phạm lợi ích Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân' xảy ra tại nơi gọi là 'Tịnh thất Bồng Lai' (huyện Đức Hòa, tỉnh Long An). Phiên tòa phúc thẩm được mở sau khi TAND huyện Đức Hòa (tỉnh Long An) tuyên bị cáo Lê Tùng Vân 5 năm tù; 5 bị cáo còn lại từ 3 đến 5 năm tù cùng về tội “Lợi dụng các quyền tự do dân chủ xâm phạm lợi ích Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân” theo Khoản 2, điều 331, Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Lê Tùng Vân là đối tượng chống đối, nhiều hành vi làm băng hoại đạo đức, luân thường đã được xử lý nghiêm minh theo pháp luật nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, được Nhân dân và dư luận hết sức đồng tình. Thế nhưng không hiểu vì lí do gì Uỷ ban Tự do Tôn giáo Quốc tế của Hoa Kỳ (USCIRF) lại lấy danh nghĩa tôn giáo để lên tiếng bênh vực cho một kẻ bệnh hoạn, vi phạm pháp luật, không có đóng góp gì cho hoạt động tôn giáo ở Việt Nam, gây bức xúc dư luận. Thiết nghĩ một tổ chức quốc tế về tôn giáo như Hoa Kỳ lẽ ra phải đại diện cho danh dự, giá trị chân chính của chính đạo. Chứ đàng này lại cổ vũ, bệnh vực cho kẻ bệnh hoạn, đi ngược với lương tri nhân loại, chà đạp lên giá trị thực sự của toàn thể cộng đoàn. Điều đó cũng có thể hình dung ra tổ chức này không đại diện cho những người theo tôn giáo chân chính, vì sự phát triển xã hội và hòa bình thế giới mà chẳng qua là lợi dụng tôn giáo để can thiệp vào nội bộ nước khác, thực hiện những ý đồ chính trị tăm tối mà thôi!

Trung sĩ Công an cứu người đuối nước, lan tỏa điều tốt đẹp trong cuộc sống

  Trung sĩ Công an cứu người đuối nước, lan tỏa điều tốt đẹp trong cuộc sống      Phát hiện 2 cháu bé đang chấp chới giữa dòng nước, không q...