25/4/22

CẦN LUẬT HÓA CÁC LỰC LƯỢNG THAM GIUA BẢO ĐẢM ANTT TẠI CƠ SỞ

 Nhiều đại biểu tham dự Hội thảo "Luận cứ khoa học và thực tiễn của việc xây dựng dự án Luật Lực lượng tham gia bảo vệ an ninh trật tự ở cơ sở" do Bộ Công an tổ chức mới đây cho rằng, đã đến lúc cần luật hóa các lực lượng không chuyên trách hỗ trợ lực lượng chuyên trách...

Nhiều đại biểu tham dự Hội thảo "Luận cứ khoa học và thực tiễn của việc xây dựng dự án Luật Lực lượng tham gia bảo vệ an ninh trật tự ở cơ sở" do Bộ Công an tổ chức mới đây cho rằng, đã đến lúc cần luật hóa các lực lượng không chuyên trách hỗ trợ lực lượng chuyên trách trong công tác bảo đảm an ninh trật tự (ANTT) ở cơ sở, xác định đúng tên gọi, chức năng, nhiệm vụ và có chính sách hỗ trợ đối với lực lượng này.

"Cánh tay nối dài" của Công an Nhân dân 

Lực lượng tham gia bảo vệ ANTT ở cơ sở bao gồm công an xã bán chuyên trách, lực lượng bảo vệ dân phố, dân phòng, được xem như “cánh tay nối dài” của lực lượng công an nhân dân trong thực hiện nhiệm vụ bảo vệ ANTT ở cơ sở.

Từ thực tiễn tại cơ sở, ông Nguyễn Ngọc Hiển, Phó Bí thư Đảng ủy phường Quán Toan (quận Hồng Bàng, TP. Hải Phòng) cho biết, từ khi thành lập, lực lượng tham gia bảo vệ ANTT ở cơ sở thường xuyên phối hợp với cán bộ Tổ dân phố nắm tình hình địa bàn, tình hình Nhân dân, đã cung cấp cho công an phường 1.785 tin có giá trị phục vụ công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm và tệ nạn xã hội, qua đó, góp phần khám phá các vụ phạm pháp hình sự, kinh tế, ma túy trên địa bàn đạt hiệu quả cao. Đồng thời, lực lượng tham gia bảo vệ ANTT luôn làm tốt chức năng, nhiệm vụ, tích cực tham gia phối hợp với lực lượng công an phường trong công tác bảo đảm ANTT địa bàn.

Lực lượng bảo vệ dân phố, dân phòng đã chủ động tham mưu tốt cho Đảng ủy, UBND phường thực hiện các phong trào toàn dân bảo vệ an ninh Tổ quốc, tuyên truyền, vận động Nhân dân chấp hành pháp luật, phòng, chống dịch bệnh… "Có thể nói, lực lượng tham gia bảo vệ ANTT ở cơ sở đã có những đóng góp xứng đáng trong công tác bảo đảm ANTT của địa phương, góp phần giảm áp lực công việc cho lực lượng công an phường khi phải thực hiện nhiều nhiệm vụ chuyên môn và chính trị của địa phương”, Phó Bí thư Đảng ủy phường Quán Toan nhấn mạnh.

Chủ tịch UBND tỉnh Tây Ninh Nguyễn Thanh Ngọc khẳng định, việc hình thành, duy trì và tổ chức hoạt động hiệu quả của lực lượng tham gia bảo vệ ANTT xuất phát từ nhu cầu khách quan của công tác bảo đảm ANTT tại cơ sở. Thời gian qua, các lực lượng này hỗ trợ rất tích cực cho lực lượng công an trên các địa bàn tỉnh Tây Ninh trong công tác phòng ngừa, đấu tranh, phòng, chống tội phạm, tệ nạn xã hội, tỷ lệ điều tra khám phá các vụ án đạt trung bình hằng năm trên 90%; tham gia quản lý, giáo dục đối tượng tại cộng đồng dân cư; hòa giải trên hàng nghìn vụ mâu thuẫn trong nội bộ nhân dân từ cơ sở, ngăn chặn không để xảy ra mất an ninh trật tự. Đồng thời, là nòng cốt trong công tác tuyên truyền, chuyển tải kịp thời đến Nhân dân những quy định của pháp luật về an ninh trật tự, phương thức, thủ đoạn hoạt động của các loại tội phạm, tệ nạn xã hội... để người dân kịp thời nhận diện, nâng cao ý thức cảnh giác và tự giác tham gia giữ gìn an ninh trật tự tại nơi sinh sống, góp phần phòng ngừa tội phạm có hiệu quả.

Các dại biểu tham dự tại điểm cầu Hà Nội - Ảnh: Trung Thành 

Chưa phát huy hết vai trò và tiềm năng

Tuy nhiên, theo Phó Giám đốc Học viện An ninh Nhân dân Nguyễn Trường Thọ, tổ chức, hoạt động của lực lượng tham gia bảo vệ ANTT ở cơ sở thời gian qua đã phát sinh nhiều vướng mắc, bất cập, đặc biệt là về cơ chế, chính sách, pháp luật. Cụ thể, văn bản quy phạm pháp luật quy định tổ chức, hoạt động, nhiệm vụ, quyền hạn của lực lượng tham gia bảo vệ an ninh, trật tự ở cơ sở chủ yếu là các văn bản dưới luật, có giá trị pháp lý không cao. Lực lượng dân phòng, bảo vệ dân phố, công an xã bán chuyên trách có nhiều điểm tương đồng về tính chất hoạt động nhưng được quy định ở nhiều văn bản pháp luật khác nhau, thiếu đồng bộ, chồng chéo. Các lực lượng này chưa được tổ chức thống nhất, chặt chẽ, dẫn tới việc chưa phát huy được hết vai trò, tiềm năng, chưa tạo thành một khối liên hoàn trong bảo vệ ANTT.

Nhất trí với những đánh giá nêu trên, nhiều đại biểu tham dự Hội thảo cho rằng, đã đến lúc phải luật hóa các lực lượng tham gia bảo vệ ANTT ở cơ sở, xác định rõ các lực lượng không chuyên trách hỗ trợ lực lượng chuyên trách trong công tác bảo đảm ANTT ở cơ sở bằng tên gọi, chức năng, nhiệm vụ và có chính sách hỗ trợ cụ thể. 

Cùng nhìn nhận ở góc độ này, nguyên Ủy viên Hội đồng Lý luận Trung ương, GS.TS. Hoàng Chí Bảo cho rằng, trên phương diện pháp lý, cần nhanh chóng xây dựng Luật Lực lượng tham gia bảo vệ ANTT ở cơ sở. Theo ông, việc ban hành và thực hiện tốt luật này chẳng những cần thiết mà còn cấp thiết, nhất là  trước yêu cầu xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền, đẩy mạnh đổi mới hệ thống tổ chức bộ máy, từ bộ máy Đảng, Nhà nước đến các tổ chức đoàn thể trong hệ thống chính trị, trong xã hội, tăng cường cải cách hành chính, tăng cường quyền làm chủ của Nhân dân trong mọi lĩnh vực của đời sống. Việc xây dựng Luật Lực lượng tham gia bảo vệ ANTT ở cơ sở sẽ góp phần nâng cao chất lượng của hệ thống chính trị cơ sở, thực hiện quy chế và pháp lệnh dân chủ cơ sở hướng vào phục vụ đời sống của người dân, ổn định và phát triển đời sống của người dân.

“Việc xây dựng và tiến tới ban hành Luật Lực lượng tham gia bảo vệ ANTT ở cơ sở còn là thể chế hóa, cụ thể hóa quan điểm của Đảng ta nhằm phục vụ và bảo vệ Nhân dân, thấm nhuần quan điểm quần chúng, quan điểm Nhân dân của Đảng, của Chủ tịch Hồ Chí Minh, đặc biệt là trong bối cảnh, tình hình hiện nay", GS.TS. Hoàng Chí Bảo khẳng định.

NHỮNG ƯU ĐIỂM KHI TÁCH LUẬT GIAO THÔNG ĐƯỜNG BỘ THÀNH 02 LUẬT: LUẬT ĐƯỜNG BỘ VÀ LUẬT AN NINH, TRẬT TỰ GIAO THÔNG ĐƯỜNG BỘ

 Luật Giao thông đường bộ năm 2008 có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2009. Qua gần 13 năm triển khai thực hiện, Luật đã có những tác động tích cực đến công tác bảo đảm trật tự, an toàn giao thông, nâng cao nhận thức và ý thức tự giác chấp hành của người tham gia giao thông. Tuy nhiên, quá trình thi hành Luật đã bộc lộ những tồn tại, khó khăn, vướng mắc, không phù hợp với tình hình thực tế, đòi hỏi khách quan phải có những đạo luật thay thế, điều chỉnh từng lĩnh vực.

Luật Giao thông đường bộ quy định 3 lĩnh vực độc lập, khác nhau là TTATGT đường bộ, hạ tầng đường bộ và vận tải đường bộ nên có nhiều vấn đề bất cập, phải sử dụng nhiều văn bản dưới Luật để điều chỉnh, trong đó có quy định liên quan đến hạn chế quyền của con người. Tuy nhiên, vấn đề này đòi hỏi phải được quy định bằng Luật. Ví dụ nếu xảy ra một vụ tai nạn, lực lượng chức năng phải ngăn đường để giải quyết vụ tai nạn. Đó cũng là hạn chế quyền con người. Nhưng việc xử lý tai nạn giao thông không được quy định trong Luật mà được quy định ở Nghị định, thông tư. Đây cũng là vấn đề cấp thiết phải xây dựng 2 Luật này từ Luật Giao thông đường bộ 2008.

Luật Giao thông đường bộ 2008 đã quy định đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng, bảo hành bảo trì quản lý vận tải đường bộ nhưng chưa đầy đủ, chưa cụ thể, nhất là cơ chế thu hút, sử dụng vốn, quản lý đầu tư, vận hành, bảo trì, bảo dưỡng…còn rất nhiều vấn đề bất cập. Trong các chế định liên quan đó, an toàn giao thông thuộc lĩnh vực TTXH chủ yếu quản lý trạng thái động; xây dựng, phát triển kết cấu hạ tầng giao thông và vận tải đường bộ thuộc lĩnh vực kinh tế - kỹ thuật điều chỉnh trạng thái tĩnh. Như vậy, Luật Giao thông đường bộ năm 2008 điều chỉnh 2 trạng thái động và tĩnh đan xen, chồng lấn nhau. Bộ Công an và Bộ Giao thông vận tải đều phải dùng các Nghị định của Chính phủ, Thông tư của mình để điều chỉnh các hoạt động theo chức năng, nhiệm vụ. Bên cạnh đó, Luật Giao thông đường bộ 2008 không quy định rõ cơ quan Nhà nước chịu trách nhiệm chính về TTATGT đường bộ, dẫn đến quá trình thực hiện thiếu nhất quán, thiếu đồng bộ giữa cơ quan quản lý Nhà nước về ANTT và cơ quan quản lý Nhà nước về hạ tầng, kinh tế, kỹ thuật. Từ đó xuất hiện những vấn đề bất cập, chồng chéo; việc phân cấp nhiệm vụ, quyền hạn cho chính quyền địa phương để gắn trách nhiệm, huy động nguồn lực còn hạn chế, chưa rõ ràng dẫn đến việc tổ chức thực hiện còn nhiều khó khăn, vướng mắc. 

Trước thực trạng đó, việc tách Luật Giao thông đường bộ năm 2008 thành 02 luật là Luật Đường bộ và Luật Trật tự, an toàn giao thông đường bộ để điều chỉnh chuyên sâu các nội dung, tạo ra một hành lang pháp lý đủ mạnh để có thể giải quyết những vấn đề cấp bách thực tiễn đang đặt ra, bảo đảm cả hai lĩnh vực quản lý nhà nước được thực hiện hiệu lực, hiệu quả và chuyên nghiệp hơn, thể hiện qua các ưu điểm sau:

Thứ nhất, góp phần hoàn thiện, phát triển hệ thống pháp luật Việt Nam, phù hợp với xu thế chuyên sâu hóa trong xây dựng pháp luật Việt Nam

Thứ hai, giải quyết hiệu quả các vấn đề liên quan đến trật tự, an toàn giao thông hiện nay, góp phần nâng cao nhận thức, văn hóa khi tham gia giao thông của người dân; tạo ra giải pháp đột phá nhằm kiềm chế, kéo giảm bền vững tai nạn giao thông, hạn chế đến mức thấp nhất những thiệt hại cho xã hội do tai nạn giao thông gây ra.

Thứ ba, thúc đẩy các hoạt động đầu tư, xây dựng, phát triển mạnh mẽ về kết cấu hạ tầng giao thông đường bộ; góp phần nâng cao chất lượng, điều kiện an toàn khi tham gia giao thông.

Thứ tư, phân định rõ trách nhiệm của các cơ quan, ban, ngành trong giải quyết các vấn đề liên quan đến trật tự, an toàn giao thông; nâng cao hiệu lực, hiệu quả công tác quản lý nhà nước trên lĩnh vực giao thông đường bộ.

Về ý kiến cho rằng, việc ban hành hai đạo luật tách biệt sẽ chồng lấn chức năng, nhiệm vụ.

Qua nghiên cứu cho thấy, việc ban hành hai đạo luật không chồng lấn chức năng, nhiệm vụ mà bảo đảm tính thống nhất khi áp dụng sẽ phát huy hiệu lực, hiệu quả. Cụ thể:

Về phạm vi điều chỉnh: Luật Trật tự, an toàn giao thông đường bộ điều chỉnh các nhóm vấn đề cơ bản, gồm: (1) Quy tắc giao thông đường bộ, hệ thống báo hiệu đường bộ, tốc độ và khoảng cách giữa các xe; (2) Quản lý về an toàn phương tiện và người điều khiển phương tiện tham gia giao thông; (3) Tổ chức, chỉ huy, điều khiển giao thông và giải quyết ùn tắc giao thông đường bộ; (4) Giải quyết tai nạn giao thông đường bộ; (5) Thực thi pháp luật và trách nhiệm pháp lý.

Theo đó, phạm vi điều chỉnh của Luật chỉ quy định những vấn đề về trật tự, an toàn giao thông (an toàn động), không quy định những nội dung thuộc về kỹ thuật an toàn giao thông. Dự án luật quy định nhiều vấn đề đang tồn tại ở các văn bản dưới luật để bổ sung vào nội dung trên. Trong khi đó, dự án Luật Đường bộ do Bộ Giao thông vận tải soạn thảo sẽ điều chỉnh các quy định về: (1) Xây dựng, phát triển kết cấu hạ tầng giao thông đường bộ; (2) quản lý, bảo trì kết cấu hạ tầng giao thông đường bộ; (3) vận tải đường bộ, dịch vụ hỗ trợ vận tải đường bộ; (4) quản lý hoạt động vận tải đường bộ và dịch vụ hỗ trợ vận tải đường bộ. Như vậy, phạm vi điều chỉnh như trên của 02 luật không trùng nhau, không chồng lấn. Việc phân công trách nhiệm của các cơ quan quản lý nhà nước về trật tự, an toàn giao thông đường bộ theo đúng chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn về pháp luật tổ chức bộ máy và do Chính phủ quy đinh, bảo đảm tính thống nhất, hiệu quả, sự phù hợp và có tính khả thi.

Về đối tượng điều chỉnh: Dự án Luật Trật tự, an toàn giao thông đường bộ chủ yếu điều chỉnh mối quan hệ giữa các cơ quan nhà nước với người tham gia giao thông, bảo đảm cho việc đi lại của người dân trong trạng thái trật tự và an toàn. Trong khi đó, Luật Đường bộ chủ yếu điều chỉnh mối quan hệ giữa các cơ quan nhà nước ở Trung ương với cơ quan nhà nước ở địa phương trong việc huy động các nguồn lực đầu tư, xây dựng, phát triển hệ thống kết cấu hạ tầng giao thông đường bộ, kết nối hạ tầng đường bộ với hạ tầng đường sắt, đường thủy nội địa, đường hàng không và hàng hải; giữa nhà nước với các tổ chức, cá nhân tham gia kinh doanh vận tải đường bộ, dịch vụ hỗ trợ vận tải đường bộ.

Qua những phân tích trên cho thấy ràng, việc tách Luật Giao thông đường bộ năm 2008 ra để xây dựng 02 dự án luật là chủ trương hết sức đúng đắn, cần thiết và cấp bách trong giai đoạn hiện nay. Không nên quá lo ngại về việc “chẻ nhỏ” các vấn đề ra khi xây dựng luật, bởi một lần nữa khẳng định hạ tầng giao thông và  đảm bảo trật tự an toàn giao thông là hai lĩnh vực rất rộng, phức tạp. Việc xây dựng Luật Trật tự, an toàn giao thông đường bộ là để bảo đảm tính thống nhất, đồng bộ về pháp luật của như quản lý nhà nước về đảm bảo trật tự, an toàn giao thồng đường bộ./.

SỰ CẦN THIẾT PHẢI TÁCH LUẬT GIAO THÔNG ĐƯỜNG BỘ THÀNH 02 LUẬT: LUẬT ĐƯỜNG BỘ VÀ LUẬT TRẬT TỰ, AN TOÀN GIAO THÔNG ĐƯỜNG BỘ

 1. Về cơ sở chính trị, pháp lý


- Chỉ thị số 18-CT/TW ngày 04/9/2012 của Ban Bí thư về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác bảo đảm trật tự, an toàn giao thông đường bộ, đường sắt, đường thủy nội địa và khắc phục ùn tắc giao thông đề ra yêu cầu: Tiến hành rà soát, sửa đổi, bổ sung để hoàn thiện hệ thống pháp luật về trật tự, an toàn giao thông phù hợp với tình hình mới.

- Kết luận số 45-KL/TW ngày 01/02/2019 của Ban Bí thư về tiếp tục đẩy mạnh thực hiện có hiệu quả Chỉ thị số 18-CT/TW ngày 04/9/2012 trong đó xác định: Công tác bảo đảm trật tự, an toàn giao thông là một nội dung của công tác bảo đảm an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hộido tính chất phức tạp của tai nạn giao thông, ùn tắc giao thông, ảnh hưởng lớn an ninh con người, an ninh xã hội.

- Nghị quyết số 13-NQ/TW ngày 16/01/2012 của Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa XI về xây dựng hệ thống kết cấu hạ tầng đồng bộ, trong đó đề ra một trong những giải pháp chủ yếu là: Sửa đổi, bổ sung các luật có liên quan để tạo thuận lợi cho phát triển hạ tầng.

- Kết luận số 19-KL/TW ngày 14/10/2021 của Bộ Chính trị về định hướng Chương trình xây dựng pháp luật nhiệm kỳ Quốc hội khóa XV, phê duyệt Đề án số 292-ĐA/ĐĐQH15 ngày 20/10/2021 của Đảng đoàn Quốc hội khóa XV về Định hướng Chương trình xây dựng pháp luật nhiệm kỳ Quốc hội khóa XV (2021-2026), trong đó đề ra nhiệm vụ nghiên cứu xây dựng dự án Luật điều chỉnh nội dung về bảo đảm trật tự, an toàn giao thông đường bộ để xem xét bổ sung vào Chương trình năm 2022-2023.

- Văn kiện Ðại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Ðảng xác định: Hoàn thiện đồng bộ hệ thống pháp luật, cơ chế, chính sách nhằm phát huy mạnh mẽ dân chủ xã hội chủ nghĩa, quyền làm chủ của Nhân dân; đồng thời tăng cường pháp chế, bảo đảm kỷ cương xã hội, trước hết là việc thực thi tinh thần “thượng tôn pháp luật”; xây dựng hệ thống pháp luật, thể chế pháp luật thống nhất, đồng bộ, khả thi, công khai, minh bạch, ổn định, với tư duy mới, phù hợp với thực tiễn; bảo đảm an ninh xã hội, an ninh con người; xây dựng xã hội trật tự, kỷ cương, an toàn; kiềm chế gia tăng tai nạn giao thông nghiêm trọng, đặc biệt nghiêm trọng, tạo chuyển biến rõ nét về trật tự, an toàn xã hội; tiếp tục đẩy mạnh thực hiện đột phá chiến lược về xây dựng hệ thống kết cấu hạ tầng giao thông đồng bộ, hiện đại, trong đó có hệ thống đường bộ; hoàn thiện pháp luật, cơ chế, chính sách để tạo điều kiện thuận lợi cho các thành phần kinh tế tham gia đầu tư phát triển hạ tầng.

- Quyết định số 1586/QĐ-TTg ngày 24/10/2012 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chiến lược bảo đảm trật tự, an toàn giao thông đường bộ đến năm 2020 và tầm nhìn đến năm 2030; Quyết định số 2060/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ ngày 12/12/2020 phê duyệt Chiến lược bảo đảm trật tự, an toàn giao thông đường bộ giai đoạn 2021-2030 và tầm nhìn đến năm 2045, trong đó đề ra yêu cầu hoàn thiện hệ thống văn bản pháp luật về trật tự, an toàn giao thông, cơ chế, tổ chức bộ máy quản lý an toàn giao thông từ Trung ương đến địa phương hoạt động hiệu lực, hiệu quả.

- Ngày 30/01/2022, Chính phủ ban hành Nghị quyết số 13/NQ-CP về phiên họp chuyên đề xây dựng pháp luật tháng 01 năm 2022, trong đó Chính phủ đã thống nhất đổi tên dự án Luật Giao thông đường bộ (sửa đổi) thành dự án Luật Đường bộ và dự án Luật Bảo đảm trật tự, an toàn giao thông đường bộ thành dự án Luật Trật tự, an toàn giao thông đường bộ, trình Quốc hội khóa XV cho ý kiến đối với 2 dự án Luật này.

- Hiến pháp năm 2013 quy định: Mọi người có quyền sống; tính mạng con người được pháp luật bảo hộ (Điều 19); mọi người được pháp luật bảo hộ về sức khoẻ (Điều 20); Nhà nước xây dựng Công an nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại, làm nòng cốt trong thực hiện nhiệm vụ bảo vệ an ninh quốc gia và bảo đảm trật tự, an toàn xã hội (Điều 67).

Như vậy, việc hoàn thiện thể chế pháp luật trong lĩnh vực bảo đảm trật tự, an toàn giao thông đường bộ là tư tưởng chỉ đạo xuyên suốt của Đảng, Nhà nước qua các thời kỳ, là sự cụ thể hóa Hiến pháp để giải quyết những vấn đề thực tiễn về trật tự, an toàn giao thông đường bộ trong tình hình mới.


2. Cơ sở thực tiễn

2.1. Những tồn tại, hạn chế trong quy định về trật tự, an toàn giao thông tại Luật Giao thông đường bộ năm 2008

Trong những năm qua, tình hình trật tự, an toàn giao thông đường bộ tuy đã có những chuyển biến nhưng chưa thực sự căn bản, vững chắc, còn nhiều diễn biến phức tạp, tai nạn giao thông vẫn ở mức cao và nghiêm trọng, nhất là số người chết, luôn tiềm ẩn nhiều nguy cơ gây mất an toàn cho người, phương tiện khi tham gia giao thông. Theo thống kê, từ năm 2009 đến năm 2021, toàn quốc đã xảy ra hơn 361 nghìn vụ tai nạn giao thông đường bộ, làm chết hơn 113 nghìn người, bị thương hơn 356 nghìn người, chiếm hơn 97% số vụ, số người chết, người bị thương trong tổng số vụ tai nạn của các loại hình giao thông, gây thiệt hại rất lớn về tài sản, trung bình hàng năm có gần 09 nghìn người chết, gần 30 nghìn người bị thương, trong đó chủ yếu trong độ tuổi lao động, ảnh hưởng trực tiếp đến phát triển kinh tế - xã hội; đáng chú ý nguyên nhân gây tai nạn giao thông do lỗi của người tham gia giao thông chiếm trên 90% số vụ.

Tình trạng ngang nhiên vi phạm, coi thường pháp luật khi tham gia giao thông vẫn diễn ra phổ biến, văn hóa giao thông còn nhiều yếu kém, bất cập, giao thông hỗn hợp mất an toàn vẫn là nỗi ám ảnh với người tham gia giao thông, gây thiệt hại lớn về người và tài sản, ảnh hưởng đến phát triển kinh tế, thu hút đầu tư nước ngoài, an sinh xã hội. Lực lượng chức năng đã xử lý trên 65 triệu trường hợp vi phạm, nộp kho bạc nhà nước trên 33 nghìn tỷ đồng; xảy ra 596 vụ chống lại lực lượng làm công tác bảo đảm trật tự, an toàn giao thông, làm 07 cán bộ hy sinh, 186 cán bộ bị thương, nhưng việc phát hiện và xử lý vi phạm vẫn chủ yếu là thủ công, hệ thống giám sát còn hạn chế.

Ùn tắc giao thông xảy ra phức tạp tại các thành phố lớn do lưu lượng phương tiện tăng đột biến, trong khi quy hoạch giao thông, tổ chức giao thông, hạ tầng giao thông chưa đáp ứng yêu cầu, gây tắc nghẽn trên diện rộng tại các đô thị lớn và trên các tuyến cao tốc, quốc lộ trọng điểm, gây ra những thiệt hại không nhỏ về kinh tế, ảnh hưởng xấu đến sức khỏe và đời sống của Nhân dân, tác động không tốt đến môi trường du lịch, thu hút đầu tư nước ngoài và hình ảnh của Việt Nam đối với bạn bè quốc tế. Các loại tội phạm hoạt động trên các tuyến giao thông đường bộ diễn biến hết sức phức tạp, đã phát hiện, xử lý hơn 40 nghìn vụ vi phạm pháp luật hình sự trên tuyến giao thông, bắt hơn 14 nghìn đối tượng. Các vấn đề về an ninh như biểu tình trái pháp luật, tụ tập đông người trên đường bộ ảnh hưởng trực tiếp đến an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội. Như vậy, an ninh con người trong lĩnh vực giao thông đường bộ chưa được bảo đảm.

Một trong những nguyên nhân cơ bản của tình trạng trên là do hoạt động giao thông đường bộ liên quan, tác động trực tiếp đến quyền con người, đó là bảo đảm an toàn tính mạng, sức khoẻ khi đi lại; theo quy định của Hiến pháp năm 2013 những quyền này phải được quy định trong văn bản luật. Theo đó, một số chế định tuy đã được điều chỉnh trong Luật Giao thông đường bộ năm 2008 như quy tắc giao thông, người và phương tiện tham gia giao thông nhưng vẫn còn nhiều quy định thiếu cụ thể, chưa sát với thực tiễn để tổ chức thực hiện, như:

(1) Quy tắc giao thông chủ yếu là nội luật hóa Công ước Viên năm 1968 về Giao thông đường bộ nhưng việc cụ thể hóa các quy định của Công ước này trong Luật Giao thông đường bộ năm 2008 chưa rõ, chưa đầy đủ và sát thực tiễn tình hình giao thông tại Việt Nam, như: quy định về sử dụng làn đường, dừng, đỗ xe trên đường phố, chuyển hướng, vượt xe, nhường đường tại nơi đường giao nhau, sử dụng đèn tín hiệu…dẫn đến khó khăn trong nhận thức và thực thi pháp luật.

(2) Không quy định đầy đủ, cụ thể về các chế định bảo đảm trật tự, an toàn giao thông liên quan cần bổ sung, như: Giải quyết tai nạn giao thông; tổ chức, chỉ huy, điều khiển giao thông, giải quyết ùn tắc giao thông, giải quyết các vấn đề an ninh trật tự, sự kiện trên các tuyến giao thông; cưỡng chế chấp hành pháp luật về trật tự, an toàn giao thông... Việc quản lý người lái xe chưa gắn với quản lý vi phạm của người tham gia giao thông. Trong nhiều vụ tai nạn giao thông, trách nhiệm chủ yếu thuộc về người lái xe gây tai nạn mà chưa gắn trách nhiệm của các cơ quan đào tạo, sát hạch, cấp giấy phép lái xe.

(3) Từ năm 2008 đến nay, phương tiện giao thông tăng nhanh, chủ yếu là các phương tiện cá nhân, toàn quốc đã đăng ký 4.608.312 xe ô tô (gấp 5,45 lần so với từ năm 2008 trở về trước), 49.981.943 xe mô tô (gấp 2,92 lần so với từ năm 2008 trở về trước); trong khi Luật Giao thông đường bộ năm 2008 chưa có các chính sách, biện pháp, quy định cụ thể về phát triển phương tiện để đảm bảo đồng bộ với sự phát triển của cơ sở hạ tầng (cả đường xá và điểm đỗ xe), điều kiện kinh tế - xã hội Việt Nam. Quy định về nâng cao chất lượng an toàn kỹ thuật phương tiện giao thông và bảo vệ môi trường chưa đáp ứng tình hình mới, xu thế chuyển dịch phương tiện giao thông thông minh, động cơ điện.

(4) Chưa có chính sách cụ thể, rõ ràng về quản lý, sử dụng hệ thống giám sát, xử lý vi phạm trật tự, an toàn giao thông đường bộ, trung tâm chỉ huy, điều khiển giao thông và chưa xác định cơ quan chịu trách nhiệm chính trong công tác này, dẫn đến đầu tư ứng dụng công nghệ thiếu đồng bộ, chưa đáp ứng yêu cầu trong tình hình mới.

2.2. Những tồn tại, hạn chế trong quy định về kết cấu hạ tầng giao thông tại Luật Giao thông đường bộ năm 2008

Trong Văn kiện Đại hội Đảng lần thứ XIII chỉ ra tồn tại, hạn chế là phát triển kết cấu hạ tầng đồng bộ, hiện đại chưa đạt yêu cầu, chưa cân đối giữa các vùng, miền. Một số dự án hạ tầng giao thông còn chậm tiến độ. Tính kết nối trong phát triển hạ tầng, đặc biệt là giao thông thiếu đồng bộ. Nhiều tuyến đường nhất là ở các vùng nông thôn, vùng sâu có quy mô kỹ thuật thấp chưa được cải tạo nâng cấp, mở rộng, chưa đáp ứng nhu cầu vận tải và tiềm ẩn nguy cơ gây mất an toàn giao thông. Hệ thống đường địa phương những năm qua đã có bước phát triển, tuy nhiên vẫn còn nhiều hạn chế; giao thông tại các đô thị lớn còn thường xuyên ùn tắc, trong đó có một phần là hạ tầng chưa đầy đủ, đồng bộ; theo quy định của Luật Giao thông đường bộ năm 2008, tỷ lệ quỹ đất giao thông đô thị so với đất xây dựng đô thị phải bảo đảm từ 16% - 20%, tuy nhiên, tỷ lệ quỹ đất giao thông đô thị hiện nay còn thấp hơn so với quy định, như tại Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh và các đô thị lớn khác, con số này mới chỉ đạt từ 5 - 12% tùy theo từng khu vực, tỷ lệ quỹ đất dành cho giao thông tĩnh cũng rất thấp, mới chỉ đạt được dưới 1%; hệ thống đường tỉnh thiếu vốn đầu tư xây dựng, chất lượng còn hạn chế. Các quy định liên quan đến đường cao tốc hiện nay mới được quy định tại một điều (Điều 26) về quy tắc giao thông trên đường cao tốc trong Luật Giao thông đường bộ năm 2008, các vấn đề liên quan đến quản lý, khai thác, bảo trì đường cao tốc đang được quy định tại văn bản dưới luật. Hệ thống dịch vụ hạ tầng hỗ trợ cho an toàn giao thông như trạm dừng nghỉ, sửa chữa,… chưa được quan tâm đầu tư.

Nhiều chính sách pháp luật về đầu tư, phát triển hạ tầng thiếu quy định cụ thể và có nhiều tồn tại, hạn chế trong tổ chức thực hiện, như: Vấn đề thu phí không dừng, dự án BOT, xây dựng đường giao thông nông thôn, cơ chế giám sát công trình giao thông, cơ chế huy động vốn, tiêu chuẩn kỹ thuật an toàn về xây dựng hệ thống đường bộ chưa đáp ứng yêu cầu...

Nhiệm vụ phát triển kết cấu hạ tầng giai đoạn 2021-2030 là: Tiếp tục đẩy mạnh thực hiện đột phá chiến lược về xây dựng hệ thống kết cấu hạ tầng đồng bộ với một số công trình hiện đại. Tập trung phát triển mạng lưới đường bộ cao tốc, đến năm 2030, phấn đấu cả nước có khoảng 5.000 km đường bộ cao tốc, trong đó đến năm 2025, hoàn thành đường bộ cao tốc Bắc - Nam phía Đông

Trong khi đó, Luật Giao thông đường bộ năm 2008 tuy đã có quy định về chính sách về quy hoạch đầu tư, xây dựng kết cấu hạ tầng, vận hành bảo trì, quản lý vận tải đường bộ nhưng chưa đầy đủ và cụ thể, như cơ chế thu hút nguồn lực đầu tư, cơ chế về vốn, về bảo trì, bảo dưỡng kết cấu hạ tầng,... Thực tế cho thấy khi đầu tư, xây dựng kết cấu hạ tầng thực hiện các dự án đầu tư hạ tầng giao thông đường bộ gặp nhiều khó khăn về cơ sở pháp lý, trong khi đó thực tiễn luật điều chỉnh hạ tầng đường bộ chưa thể chế đủ các quan điểm chỉ đạo của Đảng, tổng kết thực tiễn để trở thành luật quan trọng nhất trong quá trình triển khai thực hiện.

2.3. Những tồn tại, hạn chế trong quy định về vận tải tại Luật Giao thông đường bộ năm 2008

Vận tải đường bộ hiện phải đảm nhận tỷ trọng lớn (chiếm khoảng hơn 70% vận tải hành khách và hàng hóa trong tổng số các loại hình vận tải), không cân đối với các phương thức vận tải khác; chất lượng dịch vụ đã được nâng cao nhưng chưa đồng đều, còn có các đơn vị vận tải nhỏ lẻ, manh mún; hiệu quả kinh doanh chưa cao; công tác quản lý lái xe còn bất cập; thiếu cơ sở dữ liệu quản lý chặt chẽ người lái xe kinh doanh vận tải. Việc quản lý xe áp dụng, phát triển công nghệ phần mềm trong dịch vụ hỗ trợ vận tải hiện nay còn gặp nhiều khó khăn. Các loại hình kinh doanh vận tải chưa được phân định rõ ràng, dẫn đến tình trạng cạnh tranh không lành mạnh và thiếu minh bạch, vi phạm vẫn mang tính phổ biến, quy định về điều kiện kinh doanh trong đó có các thiết bị quan trọng như giám sát hành trình, camera hành trình không quy định rõ ràng dẫn đến hiệu quả quản lý thấp. Nhiệm vụ trong 5 năm 2021-2025, phải phát triển giao thông đô thị hướng tới văn minh, hiện đại, thân thiện môi trường, lấy giao thông công cộng làm nền tảng; từng bước xây dựng các tuyến vận tải hành khách khối lượng lớn tại các đô thị loại I, thay thế phương tiện cá nhân. Kinh doanh vận tải là kinh doanh có điều kiện nhưng Luật Giao thông đường bộ năm 2008 quy định chưa rõ, chưa đủ cơ chế, chính sách để phát triển tương xứng với nhu cầu xã hội.

2.4. Những tồn tại, hạn chế, bất cập về kết cấu và về phân công, phân cấp trách nhiệm quản lý nhà nước trong Luật Giao thông đường bộ năm 2008.

- Trước năm 2001, các quy định về trật tự, an toàn giao thông; đầu tư, xây dựng kết cấu hạ tầng giao thông và vận tải đường bộ là 3 lĩnh vực khác nhau được điều chỉnh riêng biệt ở các văn bản dưới luật. Năm 2001, Quốc hội thông qua Luật Giao thông đường bộ và năm 2008 thông qua Luật thay thế, tiếp tục điều chỉnh đồng thời 3 lĩnh vực khác nhau là: (1) An toàn giao thông; (2) Kết cấu hạ tầng giao thông; (3) Vận tải đường bộ. Thời điểm ban hành Luật trong bối cảnh giao thông nước ta chủ yếu là mô tô, xe máy, hệ thống hạ tầng giao thông đường bộ còn hạn chế. Sau hơn 13 năm thực hiện Luật Giao thông đường bộ năm 2008 đã phát sinh nhiều tồn tại, hạn chế, không còn phù hợp với tình hình thực tế hiện nay, do thực tiễn đã có nhiều vận động, thay đổi, đòi hỏi tất yếu khách quan phải ban hành những đạo luật mới thay thế, điều chỉnh từng lĩnh vực về hạ tầng, vận tải và trật tự, an toàn giao thông.

An toàn giao thông, kết cấu hạ tầng giao thông và vận tải đường bộ là các lĩnh vực rất lớn, mục tiêu, đối tượng điều chỉnh khác nhau, nhưng lại được điều chỉnh trong cùng một luật dẫn đến không thể quy định đầy đủ, cụ thể, rõ ràng nhiều nội dung quan trọng thuộc từng lĩnh vực, phải ban hành rất nhiều văn bản dưới luật để hướng dẫn thực hiện. Trong đó, an toàn giao thông (an toàn cho người đi đường) thuộc lĩnh vực trật tự, an toàn xã hội; xây dựng, phát triển kết cấu hạ tầng giao thông và vận tải đường bộ (trong đó có chất lượng an toàn công trình và phương tiện) thuộc lĩnh vực kinh tế, kỹ thuật. Tên gọi Luật Giao thông đường bộ là chuyên ngành nhưng nội dung, phạm vi điều chỉnh không đúng là luật chuyên ngành dẫn đến hiểu không đúng về mục tiêu của từng lĩnh vực.

Theo đó, các quy phạm pháp luật, điều khoản, chương, mục của Luật Giao thông đường bộ năm 2008 hoặc chỉ phù hợp áp dụng cho lĩnh vực trật tự, an toàn giao thông đường bộ hoặc chỉ phù hợp áp dụng cho lĩnh vực xây dựng, phát triển kết cấu hạ tầng giao thông đường bộ, vận tải đường bộ và đa số các điều khoản, chương, mục của Luật chỉ có thể áp dụng cho một lĩnh vực, không thể đồng thời áp dụng được cho cả 3 lĩnh vực.

- Về nguyên tắc việc phân công, phân cấp giữa các bộ, ngành, địa phương trong quản lý nhà nước phải rõ, cụ thể, xác định cơ quan chịu trách nhiệm chính về lĩnh vực mình được giao mới có thể phục vụ tốt cho xã hội, cho người dân, góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước. Tuy nhiên, Luật Giao thông đường bộ năm 2008 không quy định rõ cơ quan nhà nước chịu trách nhiệm chính về trật tự, an toàn giao thông đường bộ, dẫn đến quá trình thực hiện thiếu nhất quán, đồng bộ, nhất là giữa cơ quan quản lý nhà nước về an ninh, trật tự và cơ quan quản lý nhà nước về hạ tầng, kinh tế, kỹ thuật; việc phân cấp nhiệm vụ, quyền hạn cho chính quyền địa phương để gắn trách nhiệm, huy động nguồn lực còn hạn chế, chưa rõ ràng dẫn đến việc tổ chức thực hiện của địa phương gặp nhiều khó khăn, vướng mắc, thiếu tính chủ động vì phải chờ cơ quan trung ương, nhất là trong đầu tư, xây dựng kết cấu hạ tầng giao thông đường bộ. Trong khi đó, Nghị quyết số 18-NQ/TW ngày 25/10/2017 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá XII đã xác định: Một cơ quan thực hiện nhiều việc và một việc chỉ giao một cơ quan chủ trì thực hiện và chịu trách nhiệm chính.

2.5. Về xu thế lập pháp và kinh nghiệm quốc tế

- Trong điều kiện xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa hiện nay xu hướng xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật của Việt Nam hiện nay theo hướng chuyên sâu, điều chỉnh một lĩnh vực cụ thể để bảo đảm sự phân công rõ ràng chức năng, nhiệm vụ trong quản lý nhà nước của các bộ, ngành, địa phương và nâng cao hiệu lực, hiệu quả thực thi pháp luật, như: Luật Thi hành án hình sự, Luật Đặc xá, Luật Thi hành tạm giữ, tạm giam được tách ra từ Bộ luật Tố tụng hình sự; Luật Tố cáo, Luật Khiếu nại được tách ra từ Luật Khiếu nại, Tố cáo; Luật Đầu tư, Luật Đầu tư công, Luật Đầu tư theo phương thức đối tác công tư được tách ra từ Luật Đầu tư (cũ); Luật Giáo dục nghề nghiệp, Luật Giáo dục đại học được tách từ Luật Giáo dục; Luật Sở hữu trí tuệ được tách ra từ Bộ luật Dân sự; Luật An toàn, vệ sinh lao động được tách ra từ Bộ luật Lao động...

- Qua nghiên cứu, tham khảo pháp luật của nhiều quốc gia, cho thấy không có quốc gia nào ban hành luật giao thông đường bộ bao gồm cả 3 lĩnh vực an toàn giao thông, kết cấu hạ tầng và vận tải đường bộ; các quốc gia xây dựng luật riêng về phát triển kết cấu hạ tầng giao thông, nhiều quốc gia xây dựng luật riêng về đường bộ cao tốc, luật riêng về vận tải đường bộ gắn với dịch vụ logistic. Công ước Viên (1968) mà Việt Nam tham gia cũng chỉ điều chỉnh về an toàn giao thông.

Có thể thấysau hơn 13 năm thực hiện, Luật Giao thông đường bộ năm 2008 đã hoàn thành “vai trò và sứ mệnh lịch sử” của mình. Nếu tiếp tục kết cấu trong một luật như hiện nay thì không thể quy định được đầy đủ, rõ ràng và khó có sự liên kết chặt chẽ giữa các nội dung, chế định của từng lĩnh vực hoặc nội dung quá lớn. Thực tiễn đòi hỏi phải xây dựng các luật chuyên ngành để điều chỉnh từng lĩnh vực cụ thể, trong đó xây dựng Luật Trật tự an toàn giao thông đường bộ để xây dựng thói quen, ý thức tự giác và hình thành văn hóa giao thông hiện đại, mang tính ổn định lâu dài, khắc phục được những tồn tại, yếu kém hiện nay, hướng tới tiếp cận văn hóa giao thông của các nước phát triển trên thế giới, đề cao bảo vệ tính mạng cho con người; xây dựng Luật Đường bộ để phát triển hạ tầng giao thông, quản lý vận tải, thích ứng với sự thay đổi, phát triển nhanh của kinh tế, xã hội, khoa học, kỹ thuật, hướng tới phát triển hệ thống hạ tầng giao thông, vận tải hiện đại, đồng bộ, chất lượng.

Như vậy, việc xây dựng và ban hành Luật Trật tự, an toàn giao thông đường bộ là đòi hỏi tất yếu, khách quan, cấp bách của thực tiễn, phù hợp với quy luật phát triển với đầy đủ cơ sở chính trị, pháp lý, khoa học và thực tiễn, là sự thể chế hóa quan điểm chỉ đạo xuyên suốt của Đảng, Nhà nước, cụ thể hóa quyền con người quy định trong Hiến pháp; phù hợp với xu hướng xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật của Việt Nam theo hướng chuyên sâu điều chỉnh một lĩnh vực cụ thể trong điều kiện xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, góp phần thúc đẩy, nâng tầm cả 02 lĩnh vực là trật tự, an toàn giao thông và phát triển kết cấu hạ tầng, vận tải đường bộ đáp ứng yêu cầu thực tiễn trong tình hình mới; xác định rõ trách nhiệm của cơ quan quản lý nhà nước đối với lĩnh vực được phân công; phù hợp với kinh nghiệm lập pháp quốc tế.

3. Về thẩm quyền quản lý đào tạo, sát hạch, cấp giấy phép lái xe

Nghị quyết 13/NQ-CP ngày 03/01/2022 của Chính phủ về phiên họp chuyên đề xây dựng pháp luật tháng 01 năm 2022 nêu rõ về thẩm quyền quản lý đào tạo sát hạch, cấp giấy phép lái xe, cần tiếp tục tổng kết, phân tích, đánh giá tác động đầy đủ, khách quan, toàn diện, kỹ lưỡng quá trình thực hiện trong thời gian qua; thuyết minh giải trình về đề xuất của Bộ Giao thông vận tải hoặc Bộ Công an quản lý cần thật sự thuyết phục, có đầy đủ cơ sở vững chắc; nghiên cứu cơ chế phối hợp theo hướng để Bộ Công an tham gia giám sát công tác đào tạo, sát hạch, cấp giấy phép lái xe, bảo đảm có sự phối hợp, kiểm soát quyền lực chặt chẽ, như vậy sẽ dễ thuyết phục hơn.

4. Ngày 30/01/2022, Chính phủ ban hành Nghị quyết số 13/NQ-CP về phiên họp chuyên đề xây dựng pháp luật tháng 01 năm 2022, trong đó Chính phủ đã thống nhất đổi tên dự án Luật giao thông đường bộ (sửa đổi) thành dự án Luật Đường bộ và dự án Luật Bảo đảm trật tự, an toàn giao thông đường bộ thành dự án Luật Trật tự, an toàn giao thông đường bộ, đồng thời, bổ sung 02 dự án luật này vào Chương trình xây dựng luật, pháp lệnh năm 2022 của Quốc hội khóa XV.

Bộ Công an và Bộ Giao thông vận tải tiếp tục tổ chức hội thảo, lấy ý kiến các cơ quan, địa phương, các chuyên gia, các nhà khoa học, nhà quản lý; nghiên cứu, tiếp thu đầy đủ ý kiến của các đại biểu Quốc hội, các cơ quan tổ chức và cá nhân; tăng cường hơn nữa truyền thông đến các đối tượng điều chỉnh để tạo sự đồng thuận cao; các chính sách cần có lập luận chặt chẽ, thuyết phục.

“XÉT LẠI” LỊCH SỬ, PHỈ BÁNG TIỀN NHÂN LÀ PHÁ HOẠI ĐẤT NƯỚC!

 Mới đây, khi trang “lề trái" đăng tải đoạn video về việc Ukraine tiến hành đập, phá dỡ Hồng quân Liên Xô tại miền Tây nước này đang tiếp tục gáy bức xúc trong dư luận Việt Nam bởi việc này do chính một số thành viên chính phủ trực tiếp chỉ đạo phá dỡ.

        Nhiều người cho rằng, đây là sự vô ơn với quá khứ, với lịch sử, với tiền nhân của họ, không thể chấp nhận được. Các bạn có thể bức xúc với Nga hiện tại nhưng không thể thẳng tay phá bỏ, phủ nhận sạch trơn lịch sử, phủ nhận những công lao của Hồng quân Liên Xô đối với việc giải thoát thế giới khỏi họa phát xít nói chung và Ukraine nói riêng. Làm như thế chẳng khác gì  chính người Ukraine đang tự tay đâm vào yết hầu của Tổ quốc mình. Điều này những người sinh ra sau chiến tranh nếu không được giáo dục chu đáo về lịch sử sẽ không thể hiểu được.


        Lịch sử là những gì thuộc về quá khứ, nó vừa là niềm tự hào vừa là bài học nhưng cũng là một di sản văn hóa, cái mốc phát triển của quốc gia, dân tộc tộc, của loài người... Lịch sử, những chứng tích lịch sử không được tôn trọng một cách đầy đủ nó sẽ lại trở thành những quả đại bác bắn vào chính tương lai của chúng ta mà chính Ukraine là bài học mình chứng sống động nhất.

        Chúng ta thử nghĩ xem, sau khi cuộc xung đột giữa Nga và Ukraine kết thúc, điều gì lại tiếp diễn trên đất nước Ukraine khi những người dân họ cảm thấy cha ông mình bị phản bội?

        Ngay cả câu chuyện "lịch sử là môn học tự chọn" thôi, cũng đủ để hiểu tinh thần dân tộc Việt Nam ra sao trong những ngày qua huống gì một tượng đài vĩ đại của Hồng quân Liên Xô - của cha, ông họ đã ngã xuống cho Ukraine hồi sinh trước họa diệt chủng của Phát xít?

        Nếu ai đó nói rằng không phải học, thuộc lịch sử nhưng vẫn yêu nước và ngược lại, thuộc lịch sử nhưng chưa chắc yêu. Cái đó chỉ đúng một phần nhưng đó là tư duy thiển cận, biết một mà không thấy hai của những kẻ n.g.u học đòi yêu nước mà thôi./.

LUẬN ĐIỆU CỦA NHỮNG KẺ VONG NÔ

          Gần 50 năm đã trôi qua (30/4/1975 - 30/4/2022), nhưng những phút giây tự hào vẫn còn mãi trong mỗi người dân đất Việt, hình ảnh lá cờ của dân tộc Việt Nam tung bay trên nóc Dinh Độc Lập đã chấm dứt mọi sự bành trướng, thống trị của Mỹ và chế độ tay sai luôn trong tâm trí mỗi người.

        Với quyết tâm “không có gì quý hơn độc lập, tự do”, “Miền Nam là máu của máu Việt Nam, là thịt của thịt Việt Nam”, toàn Đảng, toàn quân, toàn dân ta đã đoàn kết, không ngại hy sinh gian khổ, đoàn kết chiến đấu chống lại cuộc chiến tranh phi nghĩa, tàn bạo. Thế nhưng lại có những kẻ đi ngược lại với nhân dân, dân tộc ôm hận thù, tiếp tục ngụy biện, dối trá, lừa mị thế hệ sau với những luận điệu xuyên tạc về ý nghĩa của Ngày Thống nhất đất nước.

        Luận điệu mà chúng đưa ra để lòe bịp, xuyên tạc là xuyên tạc cuộc đấu tranh giải phóng miền Nam là một cuộc nội chiến, huynh đệ tương tàn. Thực tế Mỹ đã đưa quân đội đến xâm lược đất nước Việt Nam và hậu thuẫn cho những kẻ tay sai thực hiện mưu đồ chính trị của Mỹ khiến cho hàng triệu đồng bào phải huy sinh, đất  nước bị tàn phá, kinh tế bị thụt hậu.

        Chỉ tính riêng năm 1959, toàn miền Nam có 466.000 người bị chúng bắt, 400.000 người bị tù đày và 68.000 người bị giết hại. Dải đất hình chữ S đã biến thành chiến trường đẫm máu khi phải gánh chịu trên 7,8 triệu tấn bom đạn do Mỹ rải xuống, gấp 3 lần số bom đạn sử dụng trong Chiến tranh Thế giới thứ hai. Mỹ cũng rải xuống miền Nam Việt Nam khoảng 85 triệu lít chất độc hóa học có chứa đi-ô-xin. Di chứng, hậu quả của sự tàn bạo đó còn tồn tại cho đến ngày hôm nay và cả trăm năm sau. Thử hỏi: những hành động man rợ như trên của Mỹ ở Việt Nam là giúp hay tàn phá ta vậy?

        Với những cố gắng hết mình, Việt Nam đã vươn lên và hiện tại chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay. Điều đó chứng minh biết bao xương máu của thế hệ cha anh ta đã đổ xuống chiến trường miền Nam là không hề vô nghĩa.

        Thế nhưng, các thế lực thù địch, những kẻ cơ hội chính trị trong nước, những tên phản động lưu vong lại cố tình ngụy biện đổi trắng thay đen, xuyên tạc lịch sử, phủ nhận cuộc đấu tranh chống đế quốc thực dân của dân tộc ta. Chúng ra sức phỉ báng lịch sử, khơi gợi hận thù, kích động mâu thuẫn vùng miền nhằm phá hoại mối đại đoàn kết dân tộc, gây mất lòng tin của nhân dân và tiến tới phá hoại tương lai của Việt Nam.

        Những luận điệu bịa đặt, xuyên tạc không chỉ dừng lại ở những luận điệu dối trá, mỗi năm cứ đến dịp 30/4, chúng lại tăng cường tuyên truyền, livestream trên các mạng xã hội, tổ chức cầu nguyện cho “Tháng tư đen”, thậm chí kích động biểu tình gây rối an ninh trật tự… Tuy nhiên, giả dối không thể chiến thắng chính nghĩa. Mọi sự chống phá đều trở nên vô nghĩa khi mỗi người dân Việt Nam đều nâng cao khả năng tự “đề kháng”, cảnh giác trước mọi luận điệu, chiêu trò, thủ đoạn của các thế lực thù địch./

NHỮNG TỔ CHỨC “XÃ HỘI DÂN SỰ” BỘC LỘ BẢN CHẤT PHÁ HOẠI

 Nhân quyền có nhiều cách hiểu khác nhau nhưng hiểu theo nghĩa đơn giản nhất là quyền của cá nhân, quyền được quyền sống, quyền tự do, được mưu cầu hành phúc và được pháp luật bảo vệ. Một quốc gia có nhân quyền thì trước hết dân quyền phải được bảo đảm, được pháp luật bảo vệ.

        Thực tế đã cho thấy, hiện nay Việt Nam có đủ các yếu tố nhân quyền và giá trị nhân quyền cốt lõi mang đậm tính nhân văn, truyền thống đạo lý dân tộc; xã hội của kỷ cương, luân thường, đạo lý và tuân thủ các quy định của pháp luật.

        Thế nhưng, mới đây có đến 8 tổ chức “xã hội dân sự” ký thư ngỏ vận động các nước thành viên Liên Hợp quốc không bỏ phiếu ủng hộ Việt Nam ứng cử thành viên hội đồng nhân quyền Liên Hợp quốc nhiệm kỳ 2023-2025 với lý do: "vì Việt Nam bỏ phiếu chống nghị quyết hội đồng bảo an Liên Hợp quốc về loại Nga khỏi Hội đồng nhân quyền".


        Nghe đã thấy “ngược đời”, phá hoại rồi. Khẳng định rằng Việt Nam chọn lẽ phải, đương nhiên lẽ phải là thuộc về lợi ích dân tộc mình, vì hòa bình của nhân loại, không lợi dụng chiến tranh để cố súy cho chạy đua vũ trang, bán vũ khí hay nhân danh nhân quyền để đánh hội đồng, hạ bệ hình ảnh nước khác. Việt Nam bỏ phiếu chống là vì không đồng tình cách lên án quốc gia khác theo kiểu kêu gọi bầy đàn hiếp. Chỉ khi Việt Nam ủng hộ là khi họ ngồi vào với nhau trên tinh thần xây dựng, "biết tự phê binh mình trước khi phê bình người khác" chứ không phải a dua cho kẻ mạnh...

        Ở Việt Nam không hề có cái gọi là “xã hội dân sự”, bản chất đó là những tổ chức trái pháp luật, tổ chức chống đối với Nhà nước Việt Nam như "Đại Việt Quốc dân Đảng"; "mạng lưới nhân quyền Việt Nam" hay "Lực lượng cứu nguy dân tộc và dựng cờ dân chủ", "Hội nhà báo độc lập…" mà không biết so sánh giá trị nhân quyền tự do, bình đẳng của Việt Nam với những quốc gia khác đang hỗn loạn đảo điên vì bom đạn cày xới, nhân dân ly tán, xả súng trường học, phân biệt chủng tộc màu da... đang làm cho quyền sống người dân bị tổn hại như thế nào thì khác gì nhũng thứ hư danh, tiểu tốt, phá hoại nhân quyền vốn có của Việt Nam.

        Một hành động ảo vọng nhân quyền "ngoại" đến mức sẵn sàng đối đầu với lợi ích quốc gia mình - chính nơi mình đang sống không có 1 tiếng súng, một viên đạn lạc nào để thấp thỏm lo rằng chết hay sống trong ngày hôm nay... thì đủ biết bản chất như nào rồi. Đã bao giờ những kẻ này muốn Việt Nam hòa bình, ổn định phát triển đâu mà nhân danh tổ chức này, tổ chức nọ để rao giảng nhân quyền. Đúng thật là nực cười./.

KHÔNG THỂ BẺ CONG LỊCH SỬ

 Gần 50 năm trôi qua kể từ ngày 30/4/1975, ngày giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước, tới nay vẫn còn có những ý kiến sai lệch, xuyên tạc lịch sử. Họ cố tình khoét sâu những vết thương chiến tranh, chia rẽ dân tộc, đưa ra các luận điệu bẻ cong lịch sử bởi những động cơ, ý đồ xấu, những mưu đồ lợi ích của bản thân và các nhóm chống đối. Hành động này không chỉ là việc xét lại lịch sử mà còn là sự phá hoại tương lai.

Mỗi dịp tháng tư về, một số cá nhân, nhóm người Việt Nam ở nước ngoài lại đưa ra những cụm từ cũ rích, cố tình tô vẽ lại những quan điểm sai lầm như “tháng tư là tháng “vo gạo bằng nước mắt”, “mùa quốc hận - tháng tư đen”, hoặc đòi vinh danh chế độ tay sai “Việt Nam Cộng hòa”, thậm chí là đòi chia đôi lại đất nước giống như trước 1975. Một số đối tượng đưa lên mạng xã hội những quan điểm sai trái, coi cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước của dân tộc ta “thực chất chỉ là nội chiến, là chiến tranh ủy nhiệm, chiến tranh ý thức hệ nên không có gì đáng tự hào”. Đáng nói, một số người dù đã được nhân dân nuôi dưỡng, trải qua những năm tháng chiến tranh, giờ đây khi đã nghỉ hưu thì tự cho mình là người có quan điểm “cấp tiến”, tùy tiện phán xét quá khứ, cho rằng kỷ niệm ngày chiến thắng không phải là một việc “tử tế”.

Không thể bẻ cong lịch sử -0
Xe tăng Quân Giải phóng tiến vào Dinh Độc Lập ngày 30/4/1975. Ảnh: Tư liệu

Tất cả những việc làm đó hướng đến mục đích làm sai lệch lịch sử, đối tượng hướng đến là giới trẻ, những người sinh ra sau ngày 30/4/1975 vốn không phải trải qua những năm tháng chiến tranh đau thương, mất mát để thấu hiểu ý nghĩa của độc lập, thống nhất và hòa bình.

 Ý đồ những luận điệu sai trái này nhằm mang đến cách nhìn lệch lạc, cho rằng chiến thắng 30/4/1975 và sự nghiệp kháng chiến của dân tộc ta ròng rã mấy thập kỷ là cái giá phải trả quá đắt, là một sai lầm, làm cho dân tộc đau thương, chậm phát triển đất nước. Từ đó, các đối tượng hướng lái vấn đề, quy trách nhiệm cho Đảng ta, con đường mà Đảng, Chủ tịch Hồ Chí Minh lựa chọn. Đây là một nhận thức phi lịch sử, muốn phủ nhận chiến thắng của nhân dân ta, đồng thời phủ nhận cả lý tưởng độc lập dân tộc và CNXH mà nhân dân Việt Nam đã lựa chọn và kiên trì xây dựng. Cách nhìn của các đối tượng xấu muốn đánh đồng người chiến thắng và kẻ thất bại, xóa nhòa mục đích, tính chất, bản chất sự nghiệp cách mạng của dân tộc ta.

Thực tế lịch sử đã chỉ rõ, sự sụp đổ của chế độ ngụy quyền Sài Gòn với hình thức chính thể “Việt Nam cộng hòa” trong cơn bão táp cách mạng giải phóng miền Nam 30/4/1975 là bằng chứng rõ ràng về sự phá sản, thất bại của chủ nghĩa thực dân mới, chủ nghĩa đế quốc.

Đó là sự phá sản, thất bại của các thế lực xâm lược bên ngoài hòng áp đặt ách thống trị, nô dịch, áp bức, bóc lột nhân dân ta ở miền Nam, được ngụy trang và biện minh bằng những lời lẽ tốt đẹp, những “học thuyết” và “chính sách” tô vẽ cho dân chủ, tự do, cho tiến bộ và phát triển đầy giả dối theo hệ giá trị của Mỹ.

Đã có rất nhiều tiếng nói từ những người ở phía bên kia chiến tuyến sau này thừa nhận sai lầm của họ và ghi nhận chiến thắng vĩ đại của cả dân tộc Việt Nam cũng như chiến công của những người cộng sản.

Tướng Nguyễn Hữu Có, Phó Thủ tướng kiêm Tổng trưởng Quốc phòng Việt Nam cộng hòa, sau này trả lời phỏng vấn báo chí đã nói: “Chiến thắng 30/4 rất vĩ đại, là chiến thắng của sức mạnh toàn dân tộc Việt Nam... Không còn chiến tranh, không còn bom rơi đạn nổ trên quê hương mình là điều lớn nhất mà việc kết thúc chiến tranh mang lại”.

Ngay cựu Thủ tướng Việt Nam cộng hòa Nguyễn Cao Kỳ khi nhận xét về việc một số người gọi ngày 30/4 là “quốc hận” và đòi “phục quốc”, ông đã nói rằng: “Thống nhất xứ sở là nhiệm vụ lịch sử của mỗi một người con Việt Nam nhưng chúng tôi đã không làm được. Những người anh em phía bên kia đã làm được, phải chấp nhận đó là lịch sử và đất nước đã được thống nhất rồi. Vậy mà còn quay ra nói phục quốc? Nước Việt Nam có mất cho Tây đâu mà phục quốc?”.

Chiến thắng 30/4/1975 là sự khẳng định với toàn thể thế giới về ý chí, nghị lực, sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, đấu tranh vì độc lập, tự do, hòa bình, thống nhất non sông. Khát vọng thống nhất non sông, bảo vệ chủ quyền đất nước là một sức mạnh vô song có thể giúp một dân tộc nhỏ, với tính chính nghĩa làm nên những chiến công hiển hách, vĩ đại.

Quá khứ phải lùi lại, lịch sử sang trang mới. Tuy nhiên, có những sự kiện lịch sử thời gian càng lùi xa càng tỏa sáng, càng nghiền ngẫm càng nhận ra những giá trị mới mẻ, vĩ đại, càng có sức lôi cuốn, là động lực tạo nên sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc trong các chặng đường cách mạng tiếp theo. Ngày toàn thắng 30/4/1975, giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước là một trong những sự kiện huy hoàng như vậy.

Gần 50 năm đã trôi qua kể từ ngày miền Nam được hoàn toàn giải phóng, Tổ quốc thống nhất, thời gian càng lùi xa, chiến thắng 30/4/1975 của dân tộc Việt Nam càng nổi bật tầm vóc và ý nghĩa lịch sử. Các thế hệ người Việt Nam càng cảm nhận đầy đủ, sâu sắc hơn giá trị và bài học của chiến công chói lọi này.

Nhân dân Việt Nam luôn thiết tha, yêu chuộng hòa bình, khát vọng độc lập, tự do và hạnh phúc, không bao giờ mong muốn chiến tranh. Nhưng vì sinh mệnh và sự tồn vong của dân tộc, cũng như nghĩa vụ cao cả, thiêng liêng đối với quốc tế mà nhân dân ta, cả hai miền Nam - Bắc, tiền tuyến và hậu phương buộc phải cầm súng chiến đấu bảo vệ Tổ quốc. Bao thế hệ ông cha đã ngã xuống vì nền độc lập, tự do, để hôm nay chúng ta được sống trong hòa bình, tự do, mưu cầu hạnh phúc, bạn bè quốc tế đến làm ăn, sinh sống, thăm thú trong thanh bình, cùng chung tay xây dựng một đất nước ngày càng thể hiện cơ đồ, vị thế trên trường quốc tế.

Ai đó, vì bất cứ lý do gì, có tư tưởng lệch lạc, có hành vi gây mất ổn định, chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc là có tội với đất nước, với anh linh của hàng triệu đồng bào và chiến sĩ đã hy sinh vì độc lập, tự do của Tổ quốc.

NHỮNG TRÒ LỪA CỦA TỔ CHỨC KHỦNG BỐ CHÍNH PHỦ QUỐC GIA VIỆT NAM LÂM THỜI

 Ngày 18-4, TAND TP Hồ Chí Minh đã mở phiên tòa xét xử sơ thẩm và tuyên phạt  12 bị cáo phạm tội “hoạt động nhằm lật đổ chính quyền nhân dân” khi tham gia tổ chức khủng bố “Chính phủ quốc gia Việt Nam lâm thời” (CPQGVNLT).

Các đối tượng trong vụ án hoạt động nhằm lật đổ chính quyền, các bị cáo là thành viên của tổ chức khủng bố “CPQGVNLT” thực hiện tại TP Hồ Chí Minh, Đồng Nai, An Giang, Đắk Lắk, Đắk Nông, Lâm Đồng, Phú Yên và Kon Tum.

Bằng thủ đoạn vẽ ra các dự án, cùng những lời hứa đường mật, tổ chức khủng bố “CPQGVNLT” đã xúi dục, lôi kéo không ít người tham gia, thực hiện hành vi hoạt động nhằm lật đổ chính quyền nhân dân. Vì nhẹ dạ cả tin, vì tham “miếng bánh vẽ” không ít người đã lôi kéo, vận động cả người thân của mình tham gia tổ chức, khi nhận ra đã phải trả giá đắt.

Chiếc bánh vẽ của những kẻ khủng bố

Tổ chức “CPQGVNLT” do Đào Minh Quân cầm đầu, được thành lập tại Mỹ, tiền thân là Tổ chức “Tân dân chủ” chuyên hoạt động chống phá nhằm lật đổ chính quyền, lật đổ Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam bằng bạo động, vũ trang. Đào Minh Quân cùng các đối tượng tham gia tổ chức này thường xuyên tuyên truyền, xuyên tạc chủ trương, chính sách của Đảng,  Nhà nước Việt Nam, lôi kéo, móc nối, thành lập tổ chức, phát triển lực lượng trong nước và tiến hành đưa người từ nước ngoài về Việt Nam chỉ đạo thực hiện các hoạt động chống phá…

Bộ Công an đã từng thông báo “CPQGVNLT” là một tổ chức khủng bố, người nào có hành vi tham gia, tuyên truyền, lôi kéo xúi giục người khác tham gia, tài trợ, nhận tài trợ, tham gia các khóa đào tạo, huấn luyện do tổ chức này thực hiện là phạm tội và sẽ bị xử lý theo quy định của pháp luật.

Để lôi kéo người dân tham gia, tổ chức “CPQGVNLT” đã dựng lên các chiêu trò bịp bợm như hứa hẹn phong chức tước, bổ nhiệm chức vụ cho các thành viên. Đồng thời chúng còn bịa ra những thông tin, luận điệu xuyên tạc nhằm lừa phỉnh những người nhẹ dạ, nhất là với những người có trình độ học vấn thấp, người dân tộc thiểu số, những người bất mãn với chính quyền địa phương…

Tổ chức này còn “vẽ” ra nhiều dự án cùng những lời hứa sẽ cấp đất, xây nhà để đánh vào lòng tham của một số người nhẹ dạ, thiếu hiểu biết… Với những chiêu trò đó không ít người đã dính bẫy “miếng bánh vẽ” của tổ chức “CPQGVNLT”. Vì mê muội, các bị cáo đã lôi kéo người thân tham gia tổ chức khủng bố “CPQGVNLT”.

Điển hình, tại TP Hồ Chí Minh, bị cáo Trần Thị Ngọc Xuân được Lâm Ái Huê hướng dẫn thủ tục đăng ký làm thành viên tổ chức. Xuân thường xuyên dùng mạng xã hội Facebook phát trực tiếp các nội dung kêu gọi người dân tham gia tổ chức và thực hiện “trưng cầu dân ý”. Xuân đã lôi kéo cả chồng, con và  người quen của gia đình tổng cộng 6 người tham gia tổ chức. Ngoài ra Xuân còn được các thành viên của tổ chức gửi qua Facebook nhiều tài liệu tuyên truyền, xuyên tạc, bôi xấu chính quyền. Nhận được các tài liệu, Xuân đã tích cực phát tán đến nhiều thành viên.

Ngày 19-2-2019, lợi dụng việc đi thăm các hộ gia đình nghèo ở phường Tam Bình, thành phố Thủ Đức, Xuân đã mang theo 5 bộ tài liệu, khi đến thăm 3 hộ đã tuyên truyền về nội dung trong tài liệu và phát cho mỗi hộ 1 bộ. Trong thời gian tham gia tổ chức, Xuân được các thành viên tổ chức gửi tặng một điện thoại di động, 300 USD, 400 đô la Canada, 3 triệu đồng.

Tương tự Xuân, Nguyễn Thanh Xoan được La Ngọc Duyên lôi kéo đăng ký tham gia tổ chức. Bên cạnh việc phát tán các thông tin tuyên truyền xuyên tạc của tổ chức, Xoan còn lôi kéo, hướng dẫn 4 người tham gia bỏ phiếu “trưng cầu dân ý”.

Tại Đồng Nai, Lương Thị Thu Hiền liên lạc với nhiều người quen biết, nói rằng đang tham gia một tổ chức nước ngoài có hoạt động từ thiện, cấp đất, cấp nhà cho người nghèo nên cần thu thập thông tin để đăng ký với tổ chức. Nhiều người nghe theo đã cung cấp thông tin cá nhân cho Hiền, thực chất Hiền dùng để đăng ký “trưng cầu dân ý” cho Đào Minh Quân. Cùng hành động trên, tại Đồng Nai, bị cáo Trần Văn Long đã sử dụng thông tin cá nhân của hơn 20 người để đăng ký “trưng cầu dân ý”.

Tại An Giang, Đắk Lắk, Đắk Nông, Lâm Đồng, Phú Yên và Kon Tum, các bị cáo cũng có hành vi phạm tội tương tự. Các bị cáo tích cực in, phát tán các tài liệu như “Hiến pháp lâm thời”, “Hiến pháp Đệ tam Việt Nam Cộng hòa”… nhằm phổ biến cho nhiều người biết đến tổ chức “CPQGVNLT” với mục đích ủng hộ “Tổng thống” Đào Minh Quân. Ngoài ra, các bị cáo trong vụ án còn làm cờ vàng ba sọc đỏ với nhiều kích thước khác nhau rồi phân phát cho người dân để chuẩn bị nghênh đón “Tổng thống” Đào Minh Quân.

z3349442462445_061dfb403ea068759ea4a8da4aaf02b4.jpg -0
Các bị cáo tại tòa.

Nỗi ân hận muộn màng

Đứng trước tòa, bị cáo Phạm Hổ (SN 1949) thừa nhận chỉ vì có chút bất mãn với chính quyền địa phương nên đã “cả giận mất khôn”, đã tham gia tổ chức phản động của Đào Minh Quân nhằm lật đổ chính quyền. Trước tòa, Phạm Hổ nói rằng “Ở tuổi “thất thập cổ lai hy”, lẽ ra bị cáo nên ở nhà vui thú điền viên, an hưởng tuổi già thì bị cáo lại đi ngược lại. Giờ đây, khi nhận ra chân tướng của sự việc đã quá muộn, bị cáo đã hối hận và mong HĐXX xem xét cho bị cáo một mức án nhẹ nhất để sớm được về vui vầy cùng con cháu”. Bị tuyên án 3 năm tù, Phạm Hổ rời tòa bước đi không vững, có lẽ lúc này ông ta mới thấm thía sự “cả dại” của mình.

Khi luật sư của bị cáo Lương Thị Thu Hiền (SN 1968, ngụ Đồng Nai) trình bày hoàn cảnh, trình độ nhận thức … Hiền đã không còn là chính mình, không còn “bản lĩnh” một “cốt cán” của tổ chức “CPQGVNLT”. Hiền là đối tượng tích cực trong việc khi kêu gọi “trưng cầu dân ý” ủng hộ Đào Minh Quân làm “Tổng thống đệ tam Cộng hòa”. Nhưng trước tòa Hiền chỉ biết khóc và thừa nhận sai lầm. Khi được nói lời cuối cùng, lần nữa, Hiền nhận tội và cảm thấy hối hận vì nghe theo kẻ xấu, bị lôi kéo để rồi giờ đây chỉ biết mong HĐXX khoan hồng khi lượng hình.

Trình độ 1/12, tiếng Việt nói còn chưa rõ, nghề nghiệp làm nông, 1 vợ 4 con, trước tòa, Y Phương Ding Riêh nói lời nhận tội cũng không thành câu và chỉ mong HĐXX cho hưởng mức án nhẹ nhất có thể để sớm trở về làm rẫy nuôi con.

Chẳng riêng Y Phương Ding Riêh, bị cáo Y Hon Ênuôl, trình độ học vấn cũng mới qua lớp 1, cao hơn là Y Tũp Knul thì lớp 6/12. Hay như trong các bị cáo người có trình độ cao nhất cũng mới hết bậc trung học cơ sở, 9/12, hầu hết đều có hoàn cảnh khó khăn nên không mấy khó hiểu vì sao các bị cáo dễ bị dụ dỗ, lôi kéo. Tất cả bị cáo đều cho rằng mình bị xúi dục, bị mê hoặc, nhận thức hạn chế nên mới nghe những lời hứa hẹn của tổ chức khủng bố “CPQGVNLT”. Khi được nói lời cuối cùng, các bị cáo đều  thừa nhận hành vi, thừa nhận sai lầm, và mong HĐXX xem xét, khoan hồng khi lượng hình. Đồng thời hứa với HĐXX sẽ không bao giờ  tái phạm.

Hy vọng đây là bài học không chỉ đối với các bị cáo, những người phải trả giá vì hành vi “hoạt động nhằm lật đổ chính quyền nhân dân” mà còn là bài học cho tất cả những ai có ý nghĩ tin vào  “miếng bánh vẽ” của tổ chức khủng bố “CPQGVNLT”.

Nguồn: Báo Công an nhân dân.

12 bị cáo phải ra trước tòa ngày 18-4 và bị tuyên án hơn ai hết là những người đã bị “mắc bẫy” của tổ chức khủng bố này và đã phải trả giá. Các bị cáo: Trần Thị Ngọc Xuân (SN 1969) bị HĐXX tuyên phạt 13 năm tù, Nguyễn Thanh Xoan (SN 1972) 12 năm tù, Lương Thị Thu Hiền (SN 1968) 11 năm tù; Nguyễn Thị Kim Phượng (SN 1967), Trần Văn Long (SN 1955), Hồ Thị Xuân Hương ( SN 1968)  cùng 10 năm tù ; Y Hon Ênuôl (SN 1988),  Nguyễn Minh Quang (SN 1960), Lê Ngọc Thành (SN 1972) cùng 9 năm tù, Y Tũp Knul (SN 1970) 8 năm tù,  Y Phương Ding Riêh (SN 1978) 4 năm tù,  Phạm Hổ (SN 1949) 3 năm tù . Các bị cáo còn lại bị quản chế từ 2-3 năm.

19/4/22

NHẬN THỨC ĐÚNG VỀ CHỦ QUYỀN BIỂN ĐẢO, ĐẤU TRANH VỚI LUẬN ĐIỆU SAI TRÁI

 Trong khi Đảng, Nhà nước và nhân dân ta đang quyết tâm thực hiện thắng lợi đường lối, chủ trương, chính sách, pháp luật về phát triển kinh tế biển gắn với bảo vệ chủ quyền biển, đảo của Tổ quốc thì các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị lại tìm cách đưa ra những luận điệu sai trái, ngụy tạo để xuyên tạc, kích động chống phá.

Số tổ chức, đối tượng phản động, cơ hội chính trị đã tự gán cái mác “học giả”, “nhà phản biện” hay nhân danh “những người Việt Nam yêu nước”, “bảo vệ chủ quyền biển, đảo” để đả phá, cho rằng đường lối, chính sách của Đảng, Nhà nước ta về biển, đảo hiện nay đã lỗi thời, không còn phù hợp, từ đó đả kích rằng Việt Nam nếu tiếp tục giữ lập trường như hiện nay “sẽ không giữ được chủ quyền biển, đảo”!

Các thủ đoạn lợi dụng vấn đề chủ quyền biển, đảo để chống phá

Những năm qua, tại Biển Đông xảy ra một số vụ việc phức tạp, có lúc diễn biến căng thẳng, trong đó có các hành động gây hấn, xâm phạm chủ quyền biển đảo như: Vụ việc tàu Viking 02 và tàu Bình Minh 02 của Việt Nam bị cắt cáp năm 2011 và 2012; vụ giàn khoan Hải Dương 981 của Trung Quốc xâm phạm chủ quyền biển đảo của Việt Nam trên Biển Đông năm 2014; sự kiện tàu Hải Dương 8 của Trung Quốc khảo sát trái phép trong vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa phía Nam Biển Đông của Việt Nam (từ ngày 4/7/2019 đến ngày 24/10/2019); các hoạt động tập trận trên Biển Đông tại một số thời điểm…

Những sự việc này được các tổ chức, đối tượng phản động triệt để khai thác, nhào nặn, biến tấu thành những luận điệu xảo trá, vu cáo như “Việt Nam nhu nhược, hèn nhát”, “chính quyền Việt Nam làm ngơ về Biển Đông”… Không những thế, các thế lực xấu còn vẽ ra “thuyết âm mưu” khi cho rằng Việt Nam cần phải liên minh quân sự với những nước lớn có thực lực kinh tế, quốc phòng - an ninh mạnh thì mới đủ sức bảo vệ chủ quyền biển, đảo quốc gia.

Đặc biệt, thông qua chiến lược xoay trục, đổi chiều sang châu Á - Thái Bình Dương của Mỹ, việc Mỹ tăng cường hợp tác với các nước trong khối ASEAN, trong đó có Việt Nam, nhằm nâng tầm ảnh hưởng đối với khu vực Biển Đông cũng như duy trì thế cân bằng quyền lực của Mỹ tại vùng biển này… cũng trở thành chủ đề mà các thế lực thù địch vin vào để đả phá, công kích.

Nhiều bài viết phê phán rằng, Việt Nam thực hiện chính sách quốc phòng “bốn không” là “tự trói mình” vì tiềm lực kinh tế, quốc phòng - an ninh Việt Nam hiện nay là quá yếu, không thể ba không, bốn không mà xoay xở được; từ đó họ vẽ ra một viễn cảnh cần phải liên minh với Mỹ thì Việt Nam mới giữ được chủ quyền biển, đảo và bảo vệ được lợi ích quốc gia - dân tộc…

Các tổ chức, đối tượng phản động lợi dụng những diễn biến phức tạp tại Biển Đông cũng như đường lối đối ngoại, hướng giải quyết các vụ việc của Việt Nam để tìm cách chế nhạo, tái diễn nhiều chiêu trò, luận điệu xuyên tạc, suy diễn, xem đó là “ngòi nổ” để phá hoại sự nghiệp bảo vệ chủ quyền biển, đảo Tổ quốc. Đồng thời đưa ra các bài viết lấy danh nghĩa “phân tích khoa học” để nhằm kích động việc “chọn phe” trong các quan hệ đối ngoại của Việt Nam, cổ súy tư tưởng bài trừ nước này, theo nước kia; cho rằng lãnh đạo Đảng, Nhà nước cần phải vì phe này, phe kia để chủ quyền biển, đảo không bị xâm lấn…

Một số bài viết lợi dụng vấn đề bảo vệ chủ quyền biển đảo để quy kết rằng, khi đất nước chỉ có một đảng thì không đủ sức mạnh để bảo vệ chủ quyền lãnh thổ, từ đó hướng lái tư tưởng đòi đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập.

Mặt khác, qua thực hiện chính sách phát triển kinh tế biển gắn với bảo vệ chủ quyền biển, đảo của Đảng, Nhà nước, trong đó có việc hỗ trợ ngư dân bám biển, nâng cao chất lượng cuộc sống nhưng bằng lối tư duy thù địch, chống phá, số đối tượng phản động lại đưa ra những lời lẽ hết sức vô lý, cho rằng “chỉ có ngư dân bảo vệ biển, không thấy chính quyền đâu”; vu cáo chính quyền “chỉ quan tâm đến phát triển kinh tế, không lo bảo vệ biển, đảo, không lo cho dân”.

Họ vin vào tình hình ngư dân Việt Nam đánh bắt hải sản ở vùng biển của quốc gia khác, bị lực lượng bảo vệ pháp luật của các nước bắt giữ, xử lý để gieo rắc luận điệu “ngư dân bị bỏ rơi”! Một số bài viết lợi dụng tình hình tội phạm, vi phạm pháp luật trên biển diễn biến phức tạp; việc các tàu công vụ của nước ngoài tiếp tục có hành vi xua đuổi, khống chế, thu giữ hải sản và ngư cụ của các tàu cá Việt Nam đang hoạt động bình thường ở ngoài khơi Biển Đông để đưa ra đánh giá phiến diện “lực lượng chuyên tránh thực thi pháp luật trên biển làm ngơ, không hoàn thành nhiệm vụ”.

Các đối tượng còn tiến hành phỏng vấn số chống đối, bất mãn gắn với cái mác là các “chuyên gia”, “nhà hoạch định” để đưa ra những so sánh khập khiễng, đánh giá sai lệch về năng lực, khả năng bảo vệ chủ quyền biển đảo của lực lượng vũ trang nhân dân Việt Nam, kích động việc “sử dụng vũ lực” của lực lượng vũ trang trong bảo vệ chủ quyền biển, đảo; họ cho rằng trước những hành động gây hấn, xâm chiếm biển, đảo Tổ quốc, nếu không nổ súng là “nhu nhược, hèn nhát”!

Nguy hiểm hơn, các thế lực bên ngoài chỉ đạo, hỗ trợ kinh phí hoạt động; các đối tượng trong nước tích cực tập hợp lực lượng, thu thập tin tức để cung cấp cho bên ngoài tuyên truyền các luận điệu xuyên tạc về tình hình Biển Đông và bảo vệ chủ quyền biển, đảo của Việt Nam.

Lợi dụng vấn đề chủ quyền biển, đảo, các đối tượng chống phá thông qua các tài khoản mạng xã hội để đẩy mạnh tuyên truyền xuyên tạc chống phá từ bên ngoài, tạo dựng lực lượng chống đối từ bên trong theo kiểu “nội công, ngoại kích” hòng gây mất ổn định an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội, thực hiện âm mưu “diễn biến hòa bình” đối với nước ta.

Nhận thức rõ về đường lối, chính sách bảo vệ chủ quyền biển, đảo của Việt Nam

Biển, đảo là bộ phận lãnh thổ thiêng liêng của Tổ quốc, cấu thành chủ quyền quốc gia, cửa ngõ giao lưu quốc tế, có vị trí đặc biệt quan trọng trong sự nghiệp xây dựng, phát triển và bảo vệ đất nước. Bảo vệ biển, đảo chính là bảo vệ một phần máu thịt thiêng liêng của Tổ quốc, giữ vững chủ quyền biển, đảo sẽ góp phần giữ vững chủ quyền của đất nước. Bảo vệ vững chắc chủ quyền biển, đảo của Việt Nam là điều kiện, nội dung giữ vững độc lập dân tộc, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ, duy trì hòa bình, ổn định và phát triển bền vững.

Văn kiện Đại hội XIII của Đảng xác định: “Kiên quyết, kiên trì đấu tranh bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ, biển, đảo, vùng trời; giữ vững môi trường hòa bình, ổn định để phát triển đất nước”.

Đây là quan điểm, chủ trương thể hiện định hướng chiến lược để toàn Ðảng, toàn dân và toàn quân tập trung triển khai thực hiện có hiệu quả nhiệm vụ quốc phòng, bảo vệ vững chắc vùng biển, đảo của Tổ quốc. Chúng ta xác định, giải quyết tranh chấp trên Biển Đông là vấn đề lâu dài, do đó cần kiên trì hợp tác tìm kiếm biện pháp hòa bình để giải quyết tranh chấp, bảo vệ lợi ích chính đáng của Việt Nam, đồng thời tôn trọng lợi ích chính đáng của các nước trên cơ sở tuân thủ luật pháp quốc tế.

Thực tế cho thấy, mỗi khi chủ quyền và quyền chủ quyền quốc gia của Việt Nam trên Biển Đông bị xâm phạm, lãnh đạo Đảng và Nhà nước ta luôn thể hiện tinh thần đấu tranh kiên quyết, kiên trì bằng các biện pháp hòa bình, đó là thông qua các diễn đàn, các cuộc gặp gỡ trong các lĩnh vực chính trị, ngoại giao...

Điều này đã được nêu rõ trong các nghị quyết của Đảng và được chứng minh qua việc giải quyết vấn đề Biển Đông của Việt Nam, với tinh thần thượng tôn pháp luật, giải quyết hòa bình các tranh chấp trên cơ sở luật pháp quốc tế và Công ước Liên hợp quốc về Luật Biển 1982 (UNCLOS 1982); kiềm chế, không sử dụng vũ lực hoặc đe dọa sử dụng vũ lực; thực hiện đầy đủ và hiệu quả Tuyên bố ứng xử của các bên ở Biển Đông (DOC) và sớm đạt được Bộ quy tắc ứng xử tại Biển Đông (COC).

Thời gian qua, Đảng và Nhà nước ta đã chủ động, tích cực giải quyết từng bước những tồn tại về biên giới lãnh thổ trên biển và đất liền với các nước liên quan nhằm thúc đẩy quan hệ hữu nghị, hợp tác, góp phần củng cố hoà bình, an ninh khu vực, đồng thời tăng cường thế và lực của đất nước thực hiện hai nhiệm vụ chiến lược là xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Việt Nam đã ký nhiều văn bản với các nước liên quan đến biển, đảo.

Bên cạnh đó, Việt Nam đã xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật quốc gia về biển, tạo khuôn khổ pháp lý cho các hoạt động khai thác, quản lý và bảo tồn các nguồn tài nguyên biển phù hợp với Công ước của Liên hợp quốc về Luật Biển 1982, phục vụ nhiệm vụ tập trung phát triển kinh tế, thúc đẩy quan hệ kinh tế của Việt Nam với các nước, nâng tầm vị thế của nước ta trên trường quốc tế.

Việt Nam chủ trương không tham gia liên minh quân sự; không liên kết với nước này để chống nước kia; không cho nước ngoài đặt căn cứ quân sự hoặc sử dụng lãnh thổ Việt Nam để chống lại nước khác; không sử dụng vũ lực hoặc đe dọa sử dụng vũ lực trong quan hệ quốc tế.

Chính sách quốc phòng của Việt Nam mang tính chất hòa bình và tự vệ; kiên quyết, kiên trì đấu tranh giải quyết mọi tranh chấp, bất đồng bằng biện pháp hòa bình trên cơ sở luật pháp quốc tế; tích cực, chủ động ngăn ngừa, đẩy lùi nguy cơ chiến tranh, thực hiện phương châm bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa, sẵn sàng chống chiến tranh xâm lược.

Chúng ta không đi với nước này để chống lại nước kia; không thụ động chịu tác động hay sự lôi kéo của bất cứ nước lớn nào, nhất là tránh việc trở thành con bài trong tay các nước lớn. Chúng ta thực hiện đối ngoại, hợp tác quốc tế về biển, góp phần duy trì môi trường hoà bình, ổn định cho phát triển.

Do đó, cần nhận diện, đấu tranh với những chiêu trò suy diễn, phê phán đường lối đối ngoại, đường lối bảo vệ độc lập, chủ quyền của Tổ quốc, đòi hỏi phải “chọn phe” để bảo vệ chủ quyền biển đảo. Tùy theo diễn biến của tình hình và trong những điều kiện cụ thể, Việt Nam sẽ cân nhắc phát triển các mối quan hệ quốc phòng, quân sự cần thiết với mức độ thích hợp trên cơ sở tôn trọng độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của nhau, cũng như các nguyên tắc cơ bản của luật pháp quốc tế, hợp tác cùng có lợi, vì lợi ích chung của khu vực và cộng đồng quốc tế.

Chúng ta quán triệt phương châm “dĩ bất biến, ứng vạn biến” trong giải quyết vấn đề biển, đảo, trong đó chủ quyền biển, đảo là bất biến, sách lược bảo vệ chủ quyền biển, đảo thì mềm dẻo, linh hoạt; chủ động ứng phó với âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch, sự biến động phức tạp của tình hình…

Những quan điểm trên chính là căn cứ chính trị, pháp lý quan trọng để chúng ta cần kiên trì, kiên quyết đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, xuyên tạc vấn đề chủ quyền biển, đảo của Việt Nam. Mục đích của việc đấu tranh này là làm cho nhân dân Việt Nam hiểu rõ về lập trường, quan điểm của Đảng và Nhà nước ta về vấn đề chủ quyền biển, đảo; củng cố niềm tin của nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng trong cuộc đấu tranh bảo vệ chủ quyền biển, đảo hiện nay; góp phần làm cho cộng đồng quốc tế hiểu rõ về chủ quyền biển, đảo của Việt Nam.

Trung sĩ Công an cứu người đuối nước, lan tỏa điều tốt đẹp trong cuộc sống

  Trung sĩ Công an cứu người đuối nước, lan tỏa điều tốt đẹp trong cuộc sống      Phát hiện 2 cháu bé đang chấp chới giữa dòng nước, không q...